vanban.org

Quyết định 01A/2024/QĐST-VDS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 22/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.

Hiệu lực của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp chị Trần Thị M trở về. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Ngân hàng thương mại cổ phần Việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Trần Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01A/2024/QĐST-VDSVụ Bản, ngày 22 tháng 3 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Văn Quân.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2024/TLST-VDS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết quyết việc dân sự số: 02/2024/QĐST-DS, ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (viết tắt là VPBank).

Địa chỉ trụ sở chính: Số 89, Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

+ Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Chí Dũng là: Ông Phạm Tuấn Anh; chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm pháp lý VPBank (Theo văn bản ủy quyền số 24/2020/UQ-HĐQT ngày 07-7-2010).

+ Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Tuấn Anh là: Ông Lê Thành Luân, ông Phạm Xuân Quang, ông Bùi Minh Thiện và ông Trương Ngọc Anh; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ VPBank (Theo văn bản ủy quyền số 153/2022/UQ-VPB ngày 31-12-2022 và số 665/2023/UQ-VPB ngày 23-6-2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị M, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú hiện nay: Phường TD, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Tại đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú ngày 25-01-2024, bản tự khai ngày 25-01-2024 và tại phiên họp người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Trương Ngọc Anh trình bày:

Ngày 17-6-2019, tại Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (viết tắt là VPBank) - Chi nhánh Nam Định, vợ chồng anh Trần Thế T, sinh năm 1990 và chị Trần Thị H1, sinh năm 1992; Đều cùng ĐKHKTT và cư trú tại: Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định và Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Nam Định đã ký kết Hợp đồng tín dụng số LN1906131458962 ngày 17-6-2019 và phụ lục hợp đồng số 01/PlHĐ (Sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 714532 ký ngày 15-6-2018), với nội dung cụ thể như sau: Số tiền cho vay là: 682.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh/mở rộng kinh doanh sản xuất mua bán đồ gỗ; thời hạn cho vay là: 12 tháng; lãi suất vay và kỳ hạn điều chỉnh: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 13,5%/năm và được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời hạn 03 tháng lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng với mức điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 6,7%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Sau khi hai bên ký kết hợp đồng tín dụng nêu trên thì cùng ngày VPBank đã giải ngân vốn vay cho vợ chồng anh T, chị H1 số tiền là 682.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay vốn nêu trên thì bà Trần Thị B1, sinh năm 1956, trú tại: Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định là mẹ đẻ của anh Trần Thế T đã bảo lãnh bằng tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 9; địa chỉ của thửa đất: TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định, thửa đất số 168 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 595194, số vào sổ cấp GCN CS 01212 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định cấp ngày 17-4-2018, đứng tên người sử dụng đất là bà Trần Thị B1 (Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 714532 ngày 15-6-2018 theo lời chứng của công chứng viên số 1872, quyển số 01/2018/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15-6-2018 tại văn phòng công chứng Ngọc Ban) để đảm bảo cho anh T và chị H1 vay vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Anh T và chị H1 đã trả tiền lãi theo thỏa thuận cho VPBank được đến hết ngày 10-01-2021 với tổng số tiền là: 154.720.002 đồng. Sau đó thì anh T và chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, cụ thể: Từ ngày 11-01-2021 cho đến nay, anh T chị H1 không trả nợ thêm cho VPBank được bất kỳ khoản tiền nào nữa. Tính đến ngày 04-7-2023 thì anh T chị H1 còn nợ của VPBank tổng số tiền là: 1.136.611.230 đồng, trong đó nợ gốc là: 682.000.000 đồng, nợ lãi là: 357.766.839 đồng và nợ phạt chậm trả tiền gốc và lãi là: 96.844.390 đồng.

Vì vậy, VPBank đã khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh T, chị H1 trả nợ cho VPBank tại Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định và Tòa án nhân dân huyện V đã thụ lý vụ án dân sự số 08A/2023/TLST-TCDS ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa VPBank và vợ chồng anh T, chị H1.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự nêu trên thì có phát sinh tình tiết mới là bà Trần Thị B1 là người đứng tên quyền sử dụng thửa đất 168, tờ bản đồ số 9 là tài sản đảm bảo cho khoản vay của anh T và chị H1 đã bị chết vào ngày 03-10-2019 do tai nạn giao thông. Nên, Tòa án đã đưa bổ sung những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị B1 là anh Trần Thế Tr, sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định và chị Trần Thị M, sinh năm 1978; địa chỉ: Phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý số 08A/2023/TLST-TCDS ngày 03 tháng 4 năm 2023. Nhưng sau khi Tòa án đưa bổ sung anh Trọng và chị M vào tham gia tố tụng thì Tòa án chỉ có xác định được địa chỉ cụ thể của anh Trọng và lấy được lời khai của anh Trọng, còn chị M thì đã đi khỏi địa phương đã lâu nên chính quyền địa phương và những người anh, em thân thích của chị M cũng như VPBank và Tòa án chỉ có xác định được là chị M đã lấy chồng và hiện đang sinh sống tại phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, còn địa chỉ cụ thể của chị M tại phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai như thế nào thì không xác định được. Nên, Tòa án không thể làm việc được với chị M.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho chị M, cho VPBank và đảm bảo thủ tục tố tụng trong việc giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 08A/2023/TLST-TCDS ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được đúng quy định của pháp luật, VPBank đề nghị Tòa án nhân dân huyện V xem xét ra quyết định đăng tin thông báo tìm kiếm chị Trần Thị M vắng vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định để cho chị M biết để chị M về Tòa án nhân dân huyện V tham gia tố tụng giải quyết vụ án dân sự nêu trên.

VPBank không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú.

2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của VPBank, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ cư trú của chị Trần Thị M.

- Xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của chị Trần Thị M tại Tổ dân phố VC, TT.G và UBND TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định: Đại diện Tổ dân phố VC và đại diện UBND TT.G đã cung cấp: Chị Trần Thị M đã vắng mặt tại địa phương suốt từ năm 2000 cho đến nay nhưng địa phương không biết được cụ thể chị M đi khỏi địa phương vào ngày nào, tháng nào. Địa phương chỉ biết được chị M đã lấy chồng nhưng không biết được người chồng của chị M quê ở đâu và cũng không biết được địa chỉ cư trú hiện nay của chị M và gia đình chị M ở đâu và chị M làm việc gì.

- Xác minh những người thân thích của chị Trần Thị M là anh Trần Thế T (là em trai của chị M) và anh Trần Văn Trọng (là anh trai của chị M): Anh T và anh Trọng đều cung cấp: Chị M nhiều năm nay không về quê và cũng không có liên lạc gì với các anh, các anh chỉ biết được hiện nay chị M và gia đình chị M đang sinh sống tại phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, còn địa chỉ cụ thể của chị M ở phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai như thế nào thì các anh không biết được và các anh cũng không có số điện thoại của chị M hoặc là số điện thoại của chồng và con của chị M để cung cấp cho Tòa án để Tòa án liên hệ với chị M.

3. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến và trình bày quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện nghiêm và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung yêu cầu của người yêu cầu: Đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 64, 147 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và các Điều 149, 361, 362, 370, 371, 372, 381, 383, 384, 385, 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của VPBank. Ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M.

Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Buộc VPBank phải chịu toàn bộ chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Buộc VPBank phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến phát biểu của người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của người yêu cầu và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Xét ngày 17-6-2019, giữa VPBank và vợ chồng anh Trần Thế T, chị Trần Thị H1 có ký kết với nhau 01 Hợp đồng tín dụng số LN1906131458962. Tài sản để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là của bà Trần Thị B1 là mẹ đẻ của Toản. Nhưng B1 đã bị chết vào ngày 03-10-2019 do tai nạn giao thông và trước khi chết thì B1 cũng không có để lại văn bản hoặc di chúc gì về các tài sản mà B1 đã thế chấp cho VPBank để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng anh T, chị H1 tại VPBank. B1 có 03 người con đẻ là anh Trần Thế Tr, anh Trần Thế T và chị Trần Thị M nên trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng mà VPBank và vợ chồng anh T, chị H1 đã ký kết nêu trên thì Tòa án đã đưa anh Trọng và chị M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nhưng chị M thì đã đi khỏi nơi cư trú cuối cùng tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định từ năm 2000 cho đến nay, theo cung cấp của chính quyền địa phương và những người thân thích của chị M thì chị M đang sinh sống tại phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai còn địa chỉ cụ thể của chị M tại phường TD, thành phố B như thế nào thì không có ai biết, mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng mà VPBank và vợ chồng anh T, chị H1 đã ký kết nêu trên thì Tòa án cũng đã áp dụng nhiều biện pháp để liên hệ, liên lạc với chị M nhưng cũng không liên hệ, liên lạc được với chị M. Do vậy, VPBank đã có đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M theo quy định tại khoản 1 Điều 381 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét chị Trần Thị M đã đi khỏi Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định từ năm 2000 cho đến nay và nay cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh về nơi cư trú chính xác hiện nay của chị M ở đâu và cũng không xác định được hiện nay chị M đang cư trú tại địa chỉ cụ thể nào nên Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định thụ lý và giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị M của VPBank là đúng quy định tại khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết yêu cầu của VPBank: Xét chị Trần Thị M là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị B1 nên chị M được quyền hưởng thừa kế di sản của bà Trần Thị B1 để lại và phần di sản mà B1 để lại tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định thì đang là tài sản đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng anh T, chị H1 tại VPBank. Tuy nhiên chị Trần Thị M đã đi khỏi nơi cư trú cuối cùng tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định từ năm 2000 và khi đi chị M không có khai báo cho chính quyền địa phương biết về việc thay đổi nơi cư trú của mình. Trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng mà VPBank và vợ chồng anh T, chị H1 đã ký kết với nhau nêu trên thì VPBank và Tòa án đã tiến hành nhiều biện pháp thu thập nhưng cũng không xác định được địa chỉ cư trú cụ thể và chính xác của chị M hiện nay ở đâu. Do đó, việc VPBank yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M tại nơi cư trú cuối cùng tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do VPBank cũng như chính quyền địa phương và những người thân thích của chị Trần Thị M không xác định được ngày, tháng chị Trần Thị M rời đi khỏi Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định là vào ngày, tháng nào mà chỉ có xác định là chị M đã rời đi Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định vào thời điểm năm 2000. Vì vậy, cần phải căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời điểm chị Trần Thị M đi khỏi nơi cư trú là vào ngày 01-01-2000. Như vậy, chị Trần Thị M đã biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng tại Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định trên 06 tháng trở lên. Do đó, yêu cầu việc dân sự của VPBank về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nên, được Tòa án chấp nhận.

Về việc áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Xét VPBank không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự và chi phí đăng, phát thông báo:

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: VPBank là người yêu cầu nên VPBank phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: VPBank là người yêu cầu nên VPBank phải chịu toàn bộ các khoản chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 64 và Điều 147 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và các Điều 149, 361, 362, 370, 371, 372, 381, 383, 384, 385, 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M, sinh năm 1978; quê quán và nơi cư trú chính xác cuối cùng: Tổ dân phố VC, TT.G, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi đang sinh sống hiện nay do người thân cung cấp: Phường TD, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Hiệu lực của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp chị Trần Thị M trở về.

3. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng phải chịu toàn bộ chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Trần Thị M.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số 000801 ngày 25-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Trần Thị M có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ