- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H - Lin, N- H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H và anh Lin, N - H
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐST- HNGĐ | Hải Dương, ngày 08 tháng 01 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác nhận cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 240/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020 về việc ‘‘ Yêu cầu xác nhận cha cho con". Theo quyết định mở phiên họp số 145/2020/QĐMPH – HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu:
1. Chị Trần Thị H, sinh ngày 10/10/1980.
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.
2. Anh Lin, Nan - Hsing, sinh ngày 20/3/1968.
Địa chỉ: Tầng 5 số 210, phố Tây Thế, cụm 009, ấp Tây Thế, thành phố Chương Hóa, huyện Chương Hóa, Đài Loan.
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn B, sinh ngày 12/2/1981.
Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai của chị Trần Thị H và đơn đề nghị, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt của anh Lin, N - Hđược xác nhận của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc thể hiện:
1
Chị H có thời gian lao động tại Đài Loan và quen biết với anh Lin, N– H, hai bên chung sống như vợ chồng tại Đài Loan. Khi chị mang thai được 7 tháng, chị về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Ngày 02/4/2019 chị được Tòa án nhân dân huyện B giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn B bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 40/2019/QĐST- HNGĐ. Ngày 13/5/2019 chị sinh con chung với anh Lin, N-H và đặt tên con làTrần Lâm Y, khi làm thủ tục khai sinh chị chưa đăng ký tên cha. Tháng 10/2019 anh Lin, N-H sang Việt Nam để làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị tại Ủy ban nhân dân huyện B. Ngày 11/10/2019 chị và anh Lin, N-H cùng cháu Trần Lâm Y làm xét nghiệm ADN. Theo quả xét nghiệm ADN số 124GL/19/DNA của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền kết luận chị và anh Lin, N-H có quan hệ huyết thống với cháu Trần Lâm Y. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thì chị và anh Lin, N-H kết hôn chưa đủ thời gian để sinh cháu Trần Lâm Y. Do vậy đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN để xác định cháu Trần Lâm Y là con đẻ của anh Lin, N- H, không phải là con của anh Nguyễn Văn B.
Do điều kiện anh Lin, N- H đang sinh sống tại Đài Loan nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho chị Trần Thị H giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, chị H có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của anh Lin, N- H. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, chị H đã thông báo cho anh Lin, N – H biết, quan điểm của anh Lin, N – H vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án xác nhận cháu Trần Lâm Y là con đẻ của anh.
Quá trình giải quyết vụ án chị H có cung cấp 01 đơn xác nhận ngày 17/7/2020 của anh Nguyễn Văn B với nội dung xác định cháu Trần Lâm Y không phải là con của anh B (Đơn có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã C). Chị H đã thông báo với anh B biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, quan điểm của anh B giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong đơn ngày 17/7/2020 và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
-Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN số 124GL/19/DNA ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền có đủ cơ sở kết luận cháu Trần Lâm Y là con của chị Trần Thị H và anh Lin, N- H. Cháu Trần Lâm Y không có quan hệ huyết thống với anh Nguyễn Văn B. Do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị H và anh Lin, N- H xác
2
định cháu Trần Lâm Y là con đẻ của anh Lin, N- H. Anh Nguyễn Văn B không phải là cha của cháu Trần Lâm Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Anh Lin, N- H là người có quốc tịch Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong đơn đề nghị xác nhận cha con, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền của anh Lin, N- H đều được xác nhận của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc, do vậy các tài liệu này hợp pháp. Anh Lin, N- H và chị Trần Thị H, anh Nguyễn Văn B đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt chị H, anh Lin, N - H và anh Nguyễn Văn B.
. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, trước khi kết hôn với anh Lin, N -H chị H đã kết hôn với anh Nguyễn Văn B, sau đó chị và anh B đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Giang giải quyết ly hôn bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 40/2019/QĐST- HNGĐ ngày 02/4/2019. Ngày 13/5/2019 chị H sinh con đặt tên là Trần Lâm Y. Ngày 24/10/2019 chị H và anh Lin, N -H đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện B. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN số 124GL/19/DNA ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền, kết luận chị Trần Thị H và anh Lin, N - H có quan hệ huyết thống bố, mẹ với cháu Trần Lâm Y. Bên cạnh đó anh Nguyễn Văn B cũng có đơn xác nhận anh không phải là cha của cháu Trần Lâm Y. Do đó, căn cứ kết luận giám định ADN, căn cứ lời khai của các bên đương sự có cơ sở xác định, cháu Trần Lâm Y là con đẻ của anh Lin, N - Hkhông phải là con của anh Nguyễn Văn B.
. Về Lệ phí: Chị Trần Thị H, anh Lin, N - H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân gia đình.
3
1.Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H và anh Lin, N - H
Xác định cháu Trần Lâm Y, sinh ngày 13/5/2019 là con của anh Lin, N - H. Cháu Trần Lâm Y không phải là con của anh Nguyễn Văn B.
2. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thị H và anh Lin, N - H, anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát tỉnh. - Các đương sự. - Lưu 4 | Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp ( Đã Ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |