- Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện Nguyễn Đình T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T, sinh ngày 15/10/1977 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: thôn K, xã N, huyện T, tỉnh B).
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 30 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐ-TA | Tân Yên, ngày 19 tháng 02 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Ánh Dương
2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Nam
Ngày 19/02/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 01/QĐ-TA ngày 31/01/2019 đối với:
Anh Nguyễn Đình T, Giới tính: Nam
Sinh ngày 15/10/1977
CMND số: 121268955, ngày cấp: 12/10/2013, nơi cấp: CA tỉnh Bắc Giang.
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không
Trình độ văn hóa: 9/12
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, xã L, huyện T, tỉnh B.
Đã chấp hành xong Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 04/5/2018 của Chủ tịch UBND xã L về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã kể từ ngày 04/8/2018.
Tiền án: không; Tiền sự : không.
Con ông Nguyễn Đình H và bà Phạm Thị H.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trương Bắc Lâm – Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình ngày 09/01/2019 và các lời khai tiếp theo Nguyễn Đình T khai: T bị UBND xã Lam C ra Quyết định 35/QĐ-UBND ngày 04/5/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã L về việc sử dụng ma túy với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 04/5/2018. Sau khi chấp hành xong thời hạn 03 tháng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và được cấp giấy chứng nhận số 28/GCN-UBND ngày 04/8/2018 đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã L thì đến ngày 03/01/2019 T lại bị Công an xã L lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Ngày 09/01/2019 bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình làm việc, T khai nhận sử dụng ma túy Hê rô in từ năm 2009 đến năm 2019 và ngày 09/01/2019 bị Công an xã L lập biên bản về sử dụng ma túy Hê rô in.
Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T với thời gian là 24 tháng, do T không tự cai nghiện ma túy.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T có ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị chấp nhận quan điểm về việc đưa Nguyễn Đình T vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng do T nghiện ma túy và không tự cai nghiện được.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện viện kiểm sát, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
* Về sự vắng mặt của Nguyễn Đình T: Ngày 31/01/2019 Tòa án nhân dân huyện T đã tống đạt hợp lệ, trực tiếp cho Nguyễn Đình T. Tại phiên họp hôm nay, Nguyễn Đình T vắng mặt nhưng không có lý do chính đáng, không do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng nên Tòa án giải quyết vắng mặt Nguyễn Đình T theo quy định tại khoản 8 Điều 01 của Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
* Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình T lập ngày 09/01/2019 do T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 28/01/2019 Tòa án nhân dân huyện T thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
* Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với Nguyễn Đình T đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
* Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T thấy: Nguyễn Đình T là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, T đã bị UBND xã L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã L theo quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 04/5/2018 thời hạn là 03 tháng. Hết thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Nguyễn Đình T vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 09/01/2019 Trạm y tế xã L xác định T có nghiện ma túy (loại ma túy Hê rô in). Chứng tỏ Nguyễn Đình T là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của T là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nguyễn Đình T đã vi phạm: khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 khoản 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96; Điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để Nguyễn Đình T cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Cần chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B và đại diện Viện kiểm sát, đưa Nguyễn Đình T đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B với thời hạn là 24 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Nguyễn Đình T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Nguyễn Đình T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và đã được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 - Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính là: “…trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính…mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính…”. Chưa hết thời hạn 02 năm đối tượng Nguyễn Đình T lại vi phạm do vậy đối tượng phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T, sinh ngày 15/10/1977 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: thôn K, xã N, huyện T, tỉnh B).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Đối tượng Nguyễn Đình T, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T, tỉnh B.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Yên; - Công an huyện Tân Yên; - Phòng LĐTBXH huyện Tân Yên; - UBND xã Lam Cốt; - Người bị đề nghị: - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Ánh Dương |