vanban.org

Quyết định 01/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Lê T

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Le T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Lê T
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/QĐ-TAN, ngày 26 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Trung

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ-TA ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với:

Lê T, sinh năm 1997; tại thành phố Hồ Chí Minh

HKTT: Số 119/1 T1, phường X, quận Y, thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.

Giới tính: Nam

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Không.

Con ông: Võ Tấn T2 và bà Trương thị Hồng N1.

Vợ Đặng Thị Thùy T2, sinh năm 1988.

Tiền án: Không

Tiền sự: Bị Tòa án nhân dân Quận Z, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 27/11/2021.

Nhân thân:

Ngày 30 tháng 6 năm 2015 bị Tòa án nhân dân Quận Z, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giất tài sản” ngày 01/12/2016 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị đưa vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai từ ngày 13 tháng 4 năm 2022 (có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Trần Thị Kiều Loan – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Vũ Đình Từ - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai tại công an xã P huyện Nhợn Trạch vào ngày 12 tháng 4 năm 2022, anh Lê T thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2019 và lần sử dụng gần nhất là vào ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 12/4/2022 bằng que Test chất ma túy trong mẫu nước tiểu của anh Lê T thể hiện kết quả dương tính.

Ngày 12/4/2022, Công an xã P đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh Lê T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo biên bản xác minh về tình trạng cư trú của anh Lê T ngày 12/4/2022 và 14/4/2022 của công an xã P thể hiện: anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số 119/1 T1, phường X, quận Y, thành phố Hồ Chí Minh, nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không nơi cư trú ổn định.

Ngày 27/4/2022, Chủ tịch UBND xã P có Văn bản số 01/ĐN- UBND về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê T. Ngày 09/5/2022, Trưởng phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện N có công văn số 03/LĐTB&XH-TNXH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê T.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 17/4/2022 của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Anh Lê T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có ý kiến: Giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Lê T trong thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

Anh Lê T trình bày: anh T thừa nhận thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2019 và lần sử dụng gần nhất là vào ngày 12 tháng 4 năm 2022. Việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đề nghị anh T đi cai nghiện bắt buộc anh T không có ý kiến gì, nhưng đề nghị xem xét giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc để anh T được tiếp tục cuộc sống, chăm sóc gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17 và Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị đúng theo quy định nên đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N là có cơ sở vì vậy đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

XÉT THẤY:

Về căn cứ, đối tượng áp dụng:

Anh Lê T là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Hiện anh Kha không tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng hoặc tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Căn cứ vào khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy ngày 30/3/2021; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ thì anh Lê T thuộc đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, anh Lê T sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị Công an xã P, huyện N phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính về lĩnh vực ma túy. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 07 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Bộ Công an; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ Công an.

Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng của người bị đề nghị:

Anh Lê T biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh T đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Đồng thời, anh T bắt đầu sử dụng và nghiện ma túy từ đầu năm 2019 và đã bị đưa đi cai nghiện bắt buốc một lần vào năm 2020. Hết thời hạn cai nghiện, anh T trở về tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy cho đến nay và không thể tự cai nghiện. Từ những cơ sở trên, cần phải đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để có thời gian nhận thức được hành vi sai phạm của mình, có hướng cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng để cảnh báo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Như vậy, việc Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện N và Viện kiểm sát huyện N đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Lê T

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N; Công an huyện N; Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ