- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án đối với Lương Văn Tài"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 1 Điều 3; Điều 22; Điều 23; Điều 24; khoản 1 Điều 29; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐ-TA | Đ, ngày 05 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lập.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Anh Vương.
Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2021/QĐ-TA ngày 27 tháng 01 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Lương Văn T, tên gọi khác T Nhóc; giới tính: nam; sinh ngày 19-8-2000 tại tỉnh Đồng Nai; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 08/12; hộ khẩu thường trú: ấp Thọ Lâm 1, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; tiền án: không; tiền sự: không; con ông Lương Văn Thuận (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nga (có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh Bình - Trưởng Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng: Ông Nguyễn Xuân Tú - Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY:
Lương Văn T (T) là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2017 đến nay và không có nơi cư trú ổn định, ngày 31-12-2020, T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy dạng đá) tại địa phận thị trấn Mađaguôi, huyện Đ, qua kiểm tra tổ công tác Công an thị trấn Mađaguôi phát hiện tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01-01-2021 Công an thị trấn Mađaguôi có văn bản đề nghị Trung tâm y tế huyện Đ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Theo phiếu trả kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01-01-2021 của Trung tâm y tế huyện Đ xác định T có nghiện ma túy.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn huyện Đ ra Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01-01-2021 về việc giao người nghiện ma túy cho cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng quản lý trong thời gian chờ cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 21-01-2021 Phòng Lao động và thương binh và xã hội huyện Đ có văn bản số 05/LĐTBXH về việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Nơi đề nghị áp dụng cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng - số 357, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị tham gia phiên họp:
T là đối tượng sự dụng chất ma túy từ năm 2017 đến nay và không có nơi cư trú ổn định, ngày 31-12-2020, T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy dạng đá) tại thị trấn Mađaguôi, huyện Đ, qua kiểm tra tổ công tác Công an thị trấn Mađaguôi phát hiện tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Theo phiếu trả kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01-01-2021 của Trung tâm y tế huyện Đ xác định T có nghiện ma túy. Ngày 01-01-2021 Ủy ban nhân dân thị trấn Mađaguôi, huyện Đ đã ra quyết định giao người nghiện ma túy cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng quản lý.
Tại thời điểm phát hiện T có hành vi sử dụng ma túy, bản thân T là người nghiện ma túy; đủ 18 tuổi và không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về trình tự lập hồ sơ của cơ quan lập hồ sơ đều đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định, Thẩm phán chủ trì phiên họp và những người tham gia phiên họp đều đúng thành phần, đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn. Về nội dung, trên cơ sở các T liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp hôm nay T đều thừa nhận hành vi nghiện chất ma túy, không có ý kiến gì. Do T nghiện chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ đưa T đi tập trung cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị:
Xác định bản thân là người có nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay và hiện nay vẫn sử dụng chất ma túy, không nơi cư trú ổn định. Thống nhất trí với ý kiến của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; không có ý kiến gì, xin giảm thời gian đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ vào các chứng cứ, T liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp hồ sơ đề nghị: Các T liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với với Lương Văn T đảm bảo đầy đủ và hợp pháp theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền đề nghị: Hồ sơ do Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T với lý do không có nơi cư trú ổn định, bản thân nghiện ma túy, là phù hợp với khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T được lập ngày 31-12-2020. Đến ngày Tòa án thụ lý hồ sơ ngày 25-01-2021 nên vẫn còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.
Về nội dung xem xét: T là đối tượng sự dụng chất ma túy từ năm 2017 đến nay, ngày 31-12-2020 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận thị trấn Mađaguôi, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, qua kiểm tra tổ công tác Công an thị trấn Mađaguôi tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01-01-2021 của Trung tâm y tế huyện Đ đã xác định T có nghiện ma tuý và loại ma túy sử dụng Amphetamin.
Như vậy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy; vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 2; khoản 1 Điều 96 và điểm 3 khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi nay là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân T là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức, biết tác hại của ma túy và thuộc chất cấm nhưng vẫn sử dụng nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.
Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên họp T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi đã thực hiện nên được áp dụng khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm của T thấy rằng: T nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự nên việc đưa đi tập trung cai nghiện bắt buộc đối với T là cần thiết, đảm bảo cho T có thời gian cai nghiện ma túy trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các T liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ xử lý hành chính và lời trình bày của T tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Tòa án nhân dân huyện Đ, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Phòng Lao động thương binh xã hội huyện Đ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107; khoản 2, khoản 3 Điều 108; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Áp dụng vào khoản 1 Điều 3; Điều 22; Điều 23; Điều 24; khoản 1 Điều 29; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Áp dụng Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T.
Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ số 357, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 01-01-2021.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ; Ủy ban nhân dân thị trấn Mađaguôi cùng phối hợp với Công an huyện Đ (Đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp – Công an huyện Đ) đưa người bị đề nghị Lương Văn T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ: số 357, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) chịu thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Đội CSTHAHS và HTTP Công an huyện Đ; - Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; - UBND thị trấn Mađaguôi, huyện Đ; - UBND xã Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Lập |