vanban.org

Quyết định 01/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Nông Văn T, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nông Văn T - QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Nông Văn T, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TAND HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/QĐ-TAChi Lăng, ngày 23 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Thế Khuynh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Triệu Thị Phương.

Ngày 23 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/QĐ-TA ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Nông Văn T. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991.

CMND số: 082165992; ngày cấp: 20/6/2008; nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.

Dân tộc: Tày.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Nguyên quán: Xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Chỗ ở: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Tiền án: Không có. Tiền sự: Nông Văn T bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã số 93a/QĐ-UBND, ngày 21/8/2017 với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 21/8/2017 đến 21/11/2017.

Con ông: Nông Văn Đ và con bà Đinh Thị K.

Nông Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Đoàn Thu Trà - Phó Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Do Nông Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an xã Q, huyện C đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân xã Q đưa đối tượng Nông Văn T vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 21/8/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 93a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nông Văn T với thời hạn là 03 tháng. Ngày 21/11/2017 Nông Văn T đã chấp hành xong biện pháp trên, theo giấy chứng nhận số 179/GCN-UBND ngày 22/11/2017 của Ủy ban nhân dân xã Q.

Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã Nông Văn T vẫn nghiện và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập Biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 28 Luật phòng chống ma túy; Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp:

Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Nông Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, nhưng không tiến bộ, vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Nông Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T là đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ và theo đúng luật định. Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Áp dụng theo đúng Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 12, Điều 16, Điều 17, Điều 20 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đại diện Viện kiểm sát nhất trí với quan điểm như Cơ quan đề nghị là đưa Nông Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng.

XÉT THẤY:

[

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; có Quyết định số 93a/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường đối với Nông Văn T phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Nông Văn T, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có bản tường trình đầy đủ của người vi phạm Nông Văn T.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 23/11/2017 là ngày Nông Văn T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại xã Q, huyện C, nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q và Công an xã Q có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi: Thì hành vi vi phạm của Nông Văn T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, nhưng hành vi trên của Nông Văn T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Nông Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây hoang mang cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã Q, huyện C.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Nông Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét về nhân thân: Nông Văn T không có tiền án, nhưng có một tiền sự. Xác định Nông Văn T có nhân thân xấu.

Bản thân Nông Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó của Nông Văn T cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Nông Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nông Văn T gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T trong một thời gian nhất định thì mới có thời gian để Nông Văn T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Nông Văn T trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm. Mức đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nông Văn T đã gây ra, nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Nông Văn T, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (23/01/2018).

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (23/01/2018).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ