- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D về việc yêu cầu xác định cha cho con.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2026/QĐST-HNGĐ | Thái Nguyên, ngày 13 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN
Với thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tạ Văn Tư
Thư ký phiên họp: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên tham gia phiên họp: Ông Hà Trọng Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2026/TLST-VHNGĐ, ngày 16 tháng 3 năm 2026 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số: 01/2026/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:
+ Chị Lường Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên.
+ Anh Lôi Văn D, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tạ Bá P, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên.
Các đương sự đều vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Tại đơn yêu cầu đề ngày 13/3/2026, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, người yêu cầu là chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D thống nhất trình bày:
Chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P kết hôn với nhau từ năm 2012, quá trình chung sống do không tìm được tiếng nói chung nên chị L và anh P đã sống ly thân từ năm 2019. Ngày 11/02/2026 chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P đã ly hôn theo Bản án số 05/2026/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên. Trong thời gian sống ly thân, chị L có quan hệ tình cảm với anh Lôi Văn D và có thai. Ngày 26/6/2025 chị L sinh một bé trai theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25 tại Bệnh viện A1, tỉnh Thái Nguyên, dự định đặt tên con là Lôi Trường A. Ngày 30/3/2026, chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên.
Vì cháu bé sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L và anh P nên anh Lôi Văn D không thể đứng tên cha trong giấy khai sinh của cháu. Nay để làm giấy khai sinh cho cháu bé, chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên xác định anh Lôi Văn D là cha đẻ của cháu bé do chị Lường Thị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Bá P trình bày: Anh khẳng định bé trai do chị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 không phải là con đẻ của anh, không có quan hệ huyết thống với anh bởi vì anh P và chị L đã sống ly thân từ lâu, chị L cũng đã làm xét nghiệm giám định ADN xác định được cha ruột của cháu bé do chị L sinh ra là anh Lôi Văn D. Do vậy, anh P đồng ý với yêu cầu của chị L và anh D đó là xác định anh Lôi Văn D là cha đẻ của bé trai do chị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 để cháu bé có thể được làm Giấy khai sinh, đảm bảo quyền lợi cho cháu. Do công việc bận nên anh Tạ Bá P đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Kết quả phân tích ADN huyết thống của Phòng khám Đ số 11 thuộc Công ty TNHH M thể hiện: Anh Lôi Văn D và cháu bé do chị Lường Thị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25 (dự định đặt tên là Lô I) có quan hệ huyết thống cha - con trai, với độ tin cậy >99.9999%.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết việc hôn nhân và gia đình, Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết việc hôn nhân và gia đình.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 29, 35, 39, 149, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T1, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị L, anh Lôi Văn D.
1. Xác định anh Lôi Văn D, sinh ngày 12/12/1988 là cha đẻ của bé trai do chị Lường Thị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 (theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS:19012.25, cấp ngày 26/6/2025 tại Bệnh viện A1, tỉnh Thái Nguyên).
2. Chị Lường Thị L, anh Lôi Văn D được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là yêu cầu về xác định cha cho con, chị Lường Thị L cư trú tại thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên, anh Lôi Văn D cư trú tại thôn C, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Chị L và anh D cùng làm đơn và nộp đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình về việc xác định cha cho con tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên. Như vậy, theo quy định tại khoản 10 Điều 29, Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên họp, các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị Lường Thị L, anh Lôi Văn D và anh Tạ Bá P.
Về nội dung yêu cầu:
Chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị L và anh P phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D có quan hệ tình cảm. Ngày 26/6/2025 chị L sinh một cháu trai theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25 tại Bệnh viện A1, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 11/02/2026 chị L và anh P ly hôn theo Bản án số 05/2026/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên, trong Bản án xác định về con chung của chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P có 01 (một) con chung là Tạ Minh T, sinh ngày 25/7/2016 và Tòa án đã giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng...”. Chị L sinh cháu trai (dự định đặt tên Lôi Trường A) vào ngày 26/6/2025 là đang trong thời kỳ hôn nhân với anh P, nhưng xét thấy:
Trên thực tế, chị L và anh P đã sống ly thân từ năm 2019. Chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D đều khẳng định: Cháu trai do chị Lường Thị L sinh ra nêu trên là co n đẻ của anh Lôi Văn D. Anh Tạ Bá P cũng xác nhận cháu trai do chị Lường Thị L sinh ra nêu trên không phải là con của anh P mà là con đẻ của anh Lôi Văn D. Lời khai của các đương sự phù hợp với Kết quả phân tích ADN huyết thống của Phòng khám Đ số 11 thuộc Công ty TNHH M. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận anh Lôi Văn D là cha đẻ của cháu trai do chị Lường Thị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm: Đây là yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên, chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D có đơn xin miễn lệ phí dân sự sơ thẩm nên người yêu cầu được miễn lệ phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; khoản 2, 3 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025;
Căn cứ Điều 88, 89, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D về việc yêu cầu xác định cha cho con.
Xác định anh Lôi Văn D, sinh ngày 12/12/1988, địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Thái Nguyên, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, là cha đẻ của cháu trai do chị Lường Thị L sinh ra vào ngày 26/6/2025 theo Giấy chứng sinh mã GCS: 02171.GCS.19012.25 tại Bệnh viện A1, tỉnh Thái Nguyên.
2. Về lệ phí: Chị Lường Thị L và anh Lôi Văn D được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 7; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự; - UBND xã Thanh Mai; - UBND xã Yên Phong; - Phòng THADS khu vực 7; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Tạ Văn Tư |