vanban.org

Quyết định 01/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12 tháng 01…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG
Số: 01/2026/QĐ-TA
Tuyên Quang, ngày 06 tháng 02 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hà Tuấn Vĩnh .

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2026/QĐ-TA ngày 02 tháng 02 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Ngô Văn K, sinh năm 1968, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1968; Dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Số CCCD: 002068004363; Ngày cấp: 12/05/2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH. Con ông Ngô Văn N và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết). Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; nhân thân: Không; nơi cư trú: Thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang (Hiện được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang quản lý). (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Chúng Minh N1 – Phó Trưởng Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

3. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Ngô Văn Ky bị Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi vi phạm như sau:

Ngày 08/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang phát hiện Ngô Văn K, sinh năm 1968, trú tại thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang đã tiến hành lập biên bản và đưa K về trụ sở Công an xã, phối hợp với Trạm y tế xã T, tỉnh Tuyên Quang xét nghiệm chất ma túy với K, kết quả xét nghiệm thể hiện Ngô Văn K dương tính với ma túy (loại ma túy Heroine). Quá trình làm việc, tại bản tường trình, biên bản sự việc và biên bản ghi lời khai, K khai nhận K là người nghiện ma túy, sử dụng ma túy Heroine từ năm 2023 cho đến nay với hình thức sử dụng là hít, lần sử dụng ma túy gần nhất vào ngày 08/01/2026. Ky không điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế và không thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy; không thực hiện việc cai nghiện tự nguyện, cai nghiện bắt buộc; Không thuộc trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý.

Ngày 12/01/2026, Trạm y tế xã T, tỉnh Tuyên Quang có kết quả xác nhận Ngô Văn K nghiện ma túy Heroine, cùng ngày, K có đơn từ chối cai nghiện tự nguyện.

Ngày 12/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang lập biên bản vi phạm số: 01/BB-VPHC đối với Ngô Văn K về hành vi: Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.

Ngày 12/01/2026, bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1974, trú tại thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang (vợ của Ngô Văn K) xác nhận về việc không tự quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 10/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang tiến hành xác minh đối với Trạm y tế xã T, tỉnh Tuyên Quang xác nhận: qua công tác theo dõi, rà soát trên hệ thống quản lý người nghiện ma tuý tham gia đăng ký điều trị các chất ma tuý bằng thuốc thay thế từ trước đến nay, không có trường hợp Ngô Văn K, sinh năm 1968, trú tại thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang tham gia điều trị và không đăng ký tham gia cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; xác minh đối với ban Q; UBND xã T, tỉnh Tuyên Quang xác nhận: Ngô Văn K từ trước đến nay không thực hiện việc cai nghiện ma túy tự nguyện, hay bắt buộc; không bị quản lý sau cai nghiện ma túy, không thuộc trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý theo sự quản lý của UBND.

Ngày 12/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang ra thông báo số: 01/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K, K đã đọc hồ sơ và không có ý kiến gì đối với việc lập hồ sơ của Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang.

Cùng ngày, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số: 01/QĐ-CA về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K, giao Ngô Văn K cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 12/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang có văn bản số: 04/ĐN-CNBB đề nghị Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K Đến ngày 30/01/2026 Công an xã Tân Trịnh chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Ngô Văn K với thời hạn là 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về thủ tục: Quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K về cơ bản đã tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với Ngô Văn K. Đề nghị Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang áp dụng Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Liên ngành trung ương quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân chấp nhận đề nghị của Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K, thời hạn đề nghị từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:

[1] Tại phiên họp, Ngô Văn K vắng mặt, có yêu cầu xem xét vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

[2] Về thẩm quyền: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K, trú tại thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang là Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang có thẩm quyền xem xét yêu cầu nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

[3] Về thời hiệu: Ngày 12/01/2026, Ngô Văn K bị Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang lập biên bản vi phạm về hành vi Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, đến ngày 06/02/2026 Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[4] Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K đã được cơ quan chức năng thực hiện theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Liên ngành Trung ương quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước.

[5] Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận: Ngô Văn K là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Ngày 08/01/2026, Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trạm y tế xã T, tỉnh Tuyên Quang xét nghiệm chất ma túy đối với K, kết quả K dương tính với ma túy (loại ma túy Heroine). Ngày 12/01/2026, Trạm y tế xã T, tỉnh Tuyên Quang có phiếu kết quả xác định Ngô Văn K nghiện ma túy Heroine, sau đó, K có đơn từ chối cai nghiện tự nguyện, ngày 12/01/2026 Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang lập biên bản vi phạm đối với K. Vì vậy, Ngô Văn K thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

[6] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Ngô Văn K thấy rằng: Ngô Văn K không có tiền án, có 01 tiền sự. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc Ngô Văn K đã “tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó Ngô Văn K được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; ngày 31/10/2025 Ngô Văn K bị Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành sử dụng trái phép chất ma túy là tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020.

[7] Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Hành vi vi phạm của Ngô Văn K đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

[8] Xét thấy đề nghị của đại diện Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K là có căn cứ nên được chấp nhận. Xét thấy, Ngô Văn K là người có 01 tiền sự, nhưng không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ, thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát và Công an xã T đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K là phù hợp. Do vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K với thời gian cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng để đảm bảo cho Ngô Văn K cắt được cơn nghiện, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9; các Điều 95, Điều 96; khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Liên ngành trung ương quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn K.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12 tháng 01 năm 2026). Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang tại thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang. 3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này. Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang kết hợp với Công an tỉnh T và Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang thi hành quyết định này.

Cỡ chữ