vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trịnh Thị Á về việc “Xác định cha cho con".

Xác định anh Phạm Văn M, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019, theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp:10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Ánh - Anh Phạm Văn Mạnh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trịnh Thị Á về việc “Xác định cha cho con".
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐST-HNGĐ
(Vv yêu cầu xác định Cha-Con)
Bình Giang, ngày 10 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu xác định cha cho con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hiếu -Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thu Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST-VDS, ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác định C, Con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2025/QĐST-VDS ngày 26 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trịnh Thị Á, sinh năm1981,

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lê Đình U, sinh năm 1967

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Văn M, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.

+ Cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

(Chị Á, anh U, anh M đều có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chị Trịnh Thị Á trình bày: Chị với anh Phạm Văn M, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau ngoài hôn nhân và sinh được cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019 (theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp:10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng). Thời điểm có quan hệ tình cảm với anh M chị Á đang sống ly thân và chờ Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Đình U, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Chị Trịnh Thị Á và anh Lê Đình U được Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2025. Ngày 09/4/2025 chị và anh Phạm Văn M có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên do cháu H sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Á và anh U nên không làm thủ tục khai sinh cho cháu H theo quy định. Nay chị Á đã kết hôn với anh M, cháu H cần được khai sinh để đảm bảo quyền lợi cho cháu. Để xác nhận cha - con, anh M đã làm thủ tục giám định AND với cháu Phạm Mạnh H và đã có kết luận giữa anh M và cháu H có quan hệ huyết thống Cha - Con, với tần suất là 99.9999995%. Nay chị xác định cháu Phạm Mạnh H là con ruột của chị và anh Phạm Văn M nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xác định chị và anh Phạm Văn M là cha, mẹ đẻ của cháu Phạm Mạnh H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn M trình bày: Trước đây chị Trịnh Thị Á và anh Lê Đình U là vợ chồng hợp pháp và có 02 con chung. Chị Á, anh U được Tòa án nhân dân huyện Bình Giang giải quyết cho ly hôn. Trong thời gian chị Á và anh U sống ly thân, anh và chị Á quen nhau có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân và sinh được cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019 (theo Giấy chứng sinh số 98, quyển số 1, ngày 19/4/2019 của Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng). Ngày 09/4/2025 anh và chị Á có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Do cháu H sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Á và anh U nên không làm thủ tục khai sinh cho cháu H được, cháu cần được khai sinh để đảm bảo quyền lợi cho cháu. Để xác nhận cha, con, anh đã làm thủ tục giám định AND với cháu Phạm Mạnh H và đã có kết luận giữa anh và cháu H có quan hệ huyết thống Cha - Con. Chị Trịnh Thị Á đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xác định anh là bố đẻ của cháu Phạm Mạnh H, anh nhất trí và không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình U trình bày: Trước đây anh và chị Trịnh Thị Á là vợ chồng hợp pháp và có 02 con chung, ngày 20/01/2025 Tòa án nhân dân huyện Bình Giang giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 08/2025/QĐST-HNGĐ. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân chị Á đã có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với anh Phạm Văn M và sinh cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019. Tuy cháu H sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng anh xác định cháu Phạm Mạnh H không phải là con của anh mà là con riêng của chị Á, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xác định cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019 là con riêng của chị Trịnh Thị Á nên anh không có nghĩa vụ gì đối với cháu H.

Ngày 20/5/2025, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ về việc trưng cầu Công ty Cổ phần C1 tiến hành xét nghiệm giám định ADN. Tại bản kết luận số: 2505/DNA.68 ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Công ty Cổ phần C1, kết luận anh Phạm Văn M có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Phạm Mạnh H với xác suất 99,9999%.

Tại phiên họp: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều đề nghị Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đây là việc dân sự yêu cầu xác định cha, con, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định tại các Điều 363, 365, 366 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quy định tại các Điều 367 và 369 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Đề nghị Tòa án quyết định:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trịnh Thị Ánh . Xác định anh Phạm Văn M, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019, theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp: 10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Về lệ phí: Miễn lệ phí tòa án sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho chị Trịnh Thị Á, trả lại cho chị Á 300.000 đồng lệ phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang nhận định:

Về Thủ tục tố tụng: Người yêu cầu xác định cha cho con chị Trịnh Thị Á, sinh năm1981; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương nên thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Người yêu cầu chị Trịnh Thị Á, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn M, anh Lê Đình U đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Lời trình bày của chị Trịnh Thị Á, anh Phạm Văn M, anh Lê Đình U xác định, chị Trịnh Thị Á và anh Lê Đình U là vợ chồng hợp pháp, trong cuộc sống hôn nhân đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng có 02 con chung và được Tòa án nhân dân huyện Bình Giang giải quyết cho ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2025. Thời gian chị Á và anh U sống ly thân và chờ Tòa án giải quyết ly hôn, chị Á và anh M đã có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân và sinh được cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019, theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp:10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng. Anh M đã tự đi xét nghiệm ADN tại Trung tâm C2. Tại kết quả phân tích ADN ngày 14/4/2025 của Trung tâm kết luận: Anh Phạm Văn M và cháu Phạm Mạnh H có quan hệ huyết thống: Cha - Con với tần suất 99,999999,5%.

Tòa án nhân dân huyện Bình Giang ra Quyết định trưng cầu giám định ADN và Công ty Cổ phần C1 về trực tiếp lấy mẫu, chụp ảnh tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang theo đúng quy định, tại bản kết luận giám định ADN số: 2505/DNA.68 ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Công ty Cổ phần C1, kết luận giữa anh Phạm Văn M và cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019 theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp:10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng có quan hệ huyết thống Cha -Con. Anh Lê Đình U xác định cháu Phạm Mạnh H không phải là con anh. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Trịnh Thị Á, xác định anh Phạm Văn M là cha đẻ của cháu Phạm Mạnh H là có căn cứ theo quy định tại các Điều 29, Điều 35, Điều 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 89, 90, 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 39 Bộ luật Dân sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trịnh Thị Á yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự cho chị Trịnh Thị Ánh .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, 90, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trịnh Thị Á về việc “Xác định cha cho con".

2. Xác định anh Phạm Văn M, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu Phạm Mạnh H, sinh ngày 19/4/2019, theo Giấy chứng sinh số: 98; quyển số 01; ngày cấp:10/04/2019; Nơi cấp: Trung tâm y tế huyện A, thành phố Hải Phòng.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn nộp lệ phí Tòa án sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho chị Trịnh Thị Ánh . Trả lại cho chị Trịnh Thị Á 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số: 0002469 ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu chị Trịnh Thị Á, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn M, anh Lê Đình U vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ