vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Tuyên án 17/01/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thào Chè S: Tuyên bố bà Sùng Thị C; sinh năm 1978; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho ông Thào Chè S. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người yê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Thào Chè S "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thào Chè S: Tuyên bố bà Sùng Thị C; sinh năm 1978; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MINH
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐST-DSYên Minh, ngày 17 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Văn Đạng.

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Mai Minh Thuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST-DS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2025/QĐST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Thào Chè S; sinh năm: 1976; dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: Làm nương; nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 15/01/2025).

- Người bị yêu cầu: Bà Sùng Thị C; sinh năm: 1978; dân tộc: Mông; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai ngày 26/12/2024, đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 15/01/2024 người yêu cầu ông Thào Chè S trình bày: Ông S và bà Sùng Thị C, sinh năm 1978 cùng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống ông S với bà C không có mâu thuẫn gì. Đến ngày 18/10/2018 bà Sùng Thị C bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì, ông S đã báo cáo chính quyền địa phương cùng gia đình hai bên tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Bà C đã bỏ đi biệt tích được hơn 06 năm, ông S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh giải quyết tuyên bố bà Sùng Thị C mất tích.

Về con chung: Ông S xác nhận, ông và bà C có 02 con chung là cháu Thào Thị S, sinh ngày 01/01/1996 và Thào Mí P, sinh ngày 03/6/1998 các cháu đã trưởng thành, ông S không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Tôi và bà C không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ việc theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã yêu cầu đương sự và đã thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự đúng quy định của pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh là đảm bảo tuân thủ thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh chấp nhận yêu cầu của ông Thào Chè S tuyên bố bà Sùng Thị C, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích. Về lệ phí giải quyết việc dân sự miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Thào Chè S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang nhận định:

Về tố tụng: Bà Sùng Thị C, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang nên đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thào Chè S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người yêu cầu chấp hành tốt các quyết định của Tòa án và có đơn xin giải quyết vắng mặt, người bị yêu cầu được triệu tập hợp lệ vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định tiến hành giải quyết vắng mặt người yêu cầu ông Thào Chè S và người bị yêu cầu bà Sùng Thị C.

Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Ông Thào Chè S và bà Sùng Thị C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ năm 1994. Quá trình chung sống ông bà không có mâu thuẫn tuy nhiên ngày 18/10/2018 bà C tự ý bỏ nhà đi đến nay đã hơn 06 năm không rõ tung tích. Ông S đã báo cáo chính quyền địa phương và cùng gia đình hai bên tìm kiếm bà C nhiều lần nhưng không có kết quả, không có tin tức gì về bà C hiện nay đang làm gì, ở đâu. Ủy ban nhân dân xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang xác nhận bà C vắng mặt tại nơi cư trú từ ngày 18/10/2018 đến nay không có tin tức, không rõ bà C đang làm gì, ở đâu, không trở về địa phương.

Ngày 19/8/2024 ông Thào Chè S có nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị C mất tích, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 18/2024/QĐ-TA ngày 04/9/2024 đối với bà Sùng Thị C; đồng thời đã được thông báo trên báo Công Lý 03 số báo liên tiếp 73, 74, 75 ra các ngày 11, 13, 18 tháng 9 năm 2024; được phát sóng trên kênh VOV2 Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào 15h00 đến 16h00 các ngày 11, 13/9/2024 và 17h30 ngày 12/9/2024, ngoài ra Quyết định đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân tuy nhiên do điều kiện sức khỏe ngày 27/9/2024 ông Vá đã xin rút đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Ngày 26/12/2024 ông Chá nộp lại đơn yêu cầu cùng các tài liệu chứng cứ, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố bà Sùng Thị C mất tích. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc bà Sùng Thị C còn sống hay đã chết. Do vậy, yêu cầu của ông Thào Chè S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Sùng Thị C, sinh năm 1978 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về con chung: Ông Thào Chè S không yêu cầu, nên Hội đồng giải quyết việc dân sự không xem xét giải quyết.

Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Ông Thào Chè S xác nhận ông và bà C không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Thào Chè S là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, ông S có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là phù hợp đúng quy định tại khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thào Chè S: Tuyên bố bà Sùng Thị C; sinh năm 1978; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho ông Thào Chè S.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người yêu cầu, người bị yêu cầu vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ