vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "vds"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐST-DSCần Thơ, ngày 31 tháng 7 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- CẦN THƠ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hồ Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Đinh Ngọc Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Cần Thơ tham gia phiên họp: ông Lê Vũ Kỳ- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 125/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 60/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Lê Hồng D, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu vực B, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ (nay là Khu vực B, phường P, thành phố Cần Thơ). Có mặt.

- Yêu cầu đối với: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1966; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Khu vực B, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ (nay là Khu vực B, phường P, thành phố Cần Thơ). Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú ngày 06/3/2025, người yêu cầu bà Lê Hồng D trình bày:

Vào năm 2023, bà Lê Hồng D có quen biết và cho bà L tham gia chơi hụi do bà D làm chủ hụi, quá trình tham gia chơi hụi, bà L đã hốt hết các chân hụi bà Lan tham gia, hiện tại bà L còn nợ lại tiền hụi chết tổng cộng là 54.000.000 đồng.

Sau đó bà Lan không trả, cố tình trốn tránh, không liên hệ được. Do đó, bà Lê Hồng D yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L để bổ túc hồ sơ khởi kiện tranh chấp nợ hụi.

Tại phiên họp:

- Bà Lê Hồng D vẫn giữ nguyên yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Cần Thơ phát biểu quan điểm:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” và thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục giải quyết việc dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp: Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo đúng quy định.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, kết quả xác nhận của Công an phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ; xét đơn yêu cầu của bà Lê Hồng D yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 64 Bộ luật dân sự; Điều 381, 383 và 384 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Hồng D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 2- Cần Thơ nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Hồng D yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L nên xác định đây là việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 2 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025, Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025.

Xét yêu cầu của bà Lê Hồng D:

Người yêu cầu bà Lê Hồng D cho rằng vào năm 2023, bà Lê Hồng D có quen biết và cho bà Lan tham gia chơi hụi do bà Diểm làm chủ hụi, quá trình tham gia chơi hụi, bà Lan đã hốt hết các chân hụi bà Lan tham gia, hiện tại bà Lan còn nợ lại tiền hụi chết tổng cộng là 54.000.000 đồng. Sau đó bà Lan không trả, cố tình trốn tránh, không liên hệ được. Do đó, bà Lê Hồng D yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L để bổ túc hồ sơ khởi kiện tranh chấp nợ hụi.

Xét thấy, theo nội dung xác nhận ngày 13/3/2025, 10/6/2025 của Công an phường Phước Thới thì bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1966 có đăng ký thường trú tại khu vực B, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ nhưng hiện tại không có mặt tại địa phương từ khoảng tháng 10 năm 2024 đến nay, đi đâu làm gì không rõ.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị Tuyết L đã biệt tích 06 tháng liền trở lên không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, yêu cầu của bà Lê Hồng D là phù hợp quy định tại Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án chấp nhận.

Từ những phân tích trên cho thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Cần Thơ là đúng quy định, phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Hồng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ:

+ Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015;

+ Khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36; Điều 39; Điều 40; Điều 149; Điều 150; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 381; Điều 383 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

+ Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.

+ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

+ Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025.

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Hồng D:

- Ra Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Khu vực Bình Hưng B, phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (nay là Khu vực B, phường P, thành phố Cần Thơ).

- Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực khi bà Nguyễn Thị Tuyết L trở về.

- Bà Lê Hồng D phải có trách nhiệm liên hệ các cơ quan báo, đài để yêu cầu đăng, phát thông báo và chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo trên.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Hồng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002430 ngày 29/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người bị yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày quyết định này được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ