vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐCNHGT-DS — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 17/03/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hoà giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 28 tháng 02 năm 2025, cụ thể như sau:

Về nguồn gốc đất: Bà Phạm Thị T, Phạm Thị H, Phạm Thị Tuyết L đều xác định mảnh đất đang tranh chấp yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế là của bố mẹ các bà cụ Phạm Như A cụ Trần Thị Th để lại. Cụ A chết năm 1975, cụ Th chết năm 1997 đều không để lại di chúc. Hai cụ sinh được ba người con gái gồm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Việc tranh chấp phân chia thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hoà giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 28 tháng 02 năm 2025, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LỮ
TỈNH HƯNG YÊN
Số: 01/2025/QĐCNHGT-DS
Tiên Lữ, ngày 17 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HOÀ GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các Điều 32, 33, 34, 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành của người khởi kiện bà Phạm Thị T, người bị kiện bà Phạm Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tuyết L;

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện về việc tranh chấp phân chia di sản thừa kế đề ngày 29/8/2024 của bà Phạm Thị T;

- Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc thoả thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hoà giải sau đây:

Người khởi kiện: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn ĐC, xã TN, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên

Người bị kiện: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn CĐ, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Luật sư Nguyễn Như T D – Văn phòng Luật sư T D thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Tuyết L, sinh năm 1965; Địa chỉ: 246/21K, Đường H, Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị T, Địa chỉ: Thôn ĐC, xã TN, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 24/02/2025)

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hoà giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải thành ngày 28 tháng 02 năm 2025 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hoà giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 28 tháng 02 năm 2025, cụ thể như sau:

- Về nguồn gốc đất: Bà Phạm Thị T, Phạm Thị H, Phạm Thị Tuyết L đều xác định mảnh đất đang tranh chấp yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế là của bố mẹ các bà cụ Phạm Như A cụ Trần Thị Th để lại. Cụ A chết năm 1975, cụ Th chết năm 1997 đều không để lại di chúc. Hai cụ sinh được ba người con gái gồm Phạm Thị H sinh năm 1959, Phạm Thị Tuyết L sinh năm 1965, Phạm Thị T sinh năm 1970.

- Tài sản của cụ A cụ Th để lại gồm 01 thửa đất diện tích 301m2 ở thôn CĐ, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, trên đất có 01 ngôi nhà ngói và 1,5 sào ruộng canh tác của cụ Th được chia theo tiêu chuẩn. Năm 1998 ba chị em đã thống nhất bán cho ông Nguyễn Duy Đ 129,2m2 với số tiền 12.800.000đ. Diện tích đất còn lại ngày 19/8/2014 UBND huyện Tiên Lữ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Vũ Ngọc S bà Phạm Thị H tại tờ bản đồ số 21 thửa số 29 diện tích 161,8m2. Năm 2019 Nhà nước thu hồi 15,2m2 để cải tạo, nâng cấp đường ĐH.72 huyện Tiên Lữ. Năm 2023 Nhà nước tiếp tục thu hồi 53,2m2 và 01 căn nhà để thực hiện dự án tuyến đường bên của tuyến đường bộ nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên. Tổng số tiền đền bù của hai đợt là 830.000.000đ do bà H quản lý, sử dụng.

- Bà Phạm Thị T, Phạm Thị H, Phạm Thị Tuyết L thống nhất thoả thuận phân chia di sản thừa kế như sau: Bà Phạm Thị H được toàn quyền sử dụng diện tích đất bố mẹ để lại hiện còn là 93,4m2 tại tờ bản đồ số 21 thửa số 29 ở thôn CĐ, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên. Bà Phạm Thị H có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị T và bà Phạm Thị Tuyết L mỗi người số tiền 225.000.000đ (hai người là 450.000.000đ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Bà H trả trực tiếp số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) ngay tại buổi hoà giải ngày 28/02/2025. Số tiền còn lại 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) chậm nhất đến ngày 30/6/2025 bà H có trách nhiệm thanh toán hết cho bà T, bà L. Nếu đến hạn thanh toán bà H không trả tiền thì sẽ phải chịu lãi theo quy định của pháp luật.

- Suất ruộng 1,5 sào của cụ Trần Thị Th được chia theo tiêu chuẩn bà Phạm Thị T, Phạm Thị Tuyết L được hưởng là 01 sào; bà Phạm Thị H được hưởng là 05 miếng.

- Bà Phạm Thị H cùng bà Phạm Thị T, Phạm Thị Tuyết L có trách nhiệm liên hệ với UBND xã NT để bà H giao lại cho bà T, bà L 01 sào ruộng của cụ Trần Thị Th và 01 suất ruộng của bà L được chia theo định suất (sau khi trừ đi phần ruộng đóng góp xây dựng nông thôn mới, xây dựng kênh mương nội đồng theo quy định của UBND xã) hiện được chia chung vào phần ruộng canh tác của hộ gia đình ông Vũ Ngọc S bà Phạm Thị H trong tổng diện tích 1013,2 m2 tại tờ bản đồ số 03, thửa số 30 thuộc xứ đồng mẫu 6 xã NT.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ về khoản tiền được thanh toán, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc trả tiền thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Cỡ chữ