- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố mất tích chị Cầm Thị Ôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu anh Huỳnh T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2025/QĐST-VDS | Đắk Lắk, ngày 24 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Văn Vân.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2025/TLST-VDS ngày 28 tháng 4 năm 2025, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QĐST-VDS ngày 10 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Huỳnh T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk) – có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cầm Thị Ô, sinh năm 1989.
Nơi cư trú cuối cùng: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk) – vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/3/2025 và tại phiên họp anh Huỳnh T trình bày:
Tôi và chị Cầm Thị Ô kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 13/10/2010, theo giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển 01/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc, lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, nhưng từ khoảng cuối năm 2019, giữa chúng tôi phát sinh mâu thuẫn, quan điểm trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên xảy ra xung đột, cãi vã. Do mẫu thuẫn nên từ khoảng tháng 02/2020 chị Cầm Thị Ô đã đi khỏi nơi cư trú tại Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk). Tôi đã tìm mọi cách liên lạc và nhiều lần tìm kiếm, thông qua hai bên gia đình nội, ngoại và bạn bè nhưng không có kết quả, không biết chị Cầm Thị Ô đã đi đâu, làm gì, hiện nay đang ở đâu và không có bất kỳ thông tin gì về chị Cầm Thị Ô nên tôi yêu cầu giải quyết tuyên bố chị Cầm Thị Ô mất tích.
Tại phiên họp người yêu cầu anh Huỳnh T giữ nguyên yêu cầu tuyên bố chị Cầm Thị Ô mất tích.
Tại phiên họp đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành xác minh, ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng đến nay không có tin tức gì về chị Cầm Thị Ô. Xét yêu cầu của anh T là có cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh T, tuyên bố một người mất tích đối với chị Cầm Thị Ô.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Nơi cư trú cuối cùng của chị Cầm Thị Ô tại Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk). Anh Huỳnh T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Cầm Thị Ô mất tích, việc yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk) theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu giải quyết tuyên bố một người mất tích: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị Cầm Thị Ô đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ khoảng tháng 02 năm 2020 cho đến nay không có tin tức, anh T đã tìm kiếm và hỏi thăm tin tức của chị Cầm Thị Ô ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, đến nay không có tin tức xác thực và không xác định được chị Cầm Thị Ô đang làm gì, ở đâu nên việc anh T yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị Cầm Thị Ô là có căn cứ.
Xét đơn yêu cầu của anh Huỳnh T là đúng quy định tại điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự, căn cứ kết quả xác minh tại nơi cư trú và chính quyền địa phương, tài liệu, chứng cứ do anh T cung cấp, đã xác định: Chị Cầm Thị Ô có nơi cư trú cuối cùng tại Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk). Chị Cầm Thị Ô đã bỏ đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 02 năm 2020 đến nay không có tin tức, khi đi không khai báo tạm vắng hay thông báo nên chính quyền địa phương không biết hiện nay chị Cầm Thị Ô làm gì, ở đâu. Để có cơ sở giải quyết việc dân sự Tòa án đã thực hiện việc thông báo, nhắn tin tìm kiếm chị Cầm Thị Ô trên Báo công lý trong ba số liên tiếp vào các ngày 25, ngày 27 tháng 6 năm 2025 và ngày 02 tháng 7 năm 2025, đăng phát tin trong 03 ngày liên tiếp trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 05, 06 và ngày 07 tháng 6 năm 2025. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Cầm Thị Ô nên việc anh T yêu cầu tuyên bố chị Cầm Thị Ô mất tích là có căn cứ, cần chấp nhận để tuyên bố chị Cầm Thị Ô Mất tích là phù hợp.
Về chi phí thông báo, nhắn tin: Anh Huỳnh T đã nộp tạm ứng số tiền 5.000.000 đồng, chi phí thông báo, nhắn tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 4.075.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng anh T đã nộp (đã chí phí xong), cần hoàn trả lại cho anh T số tiền tạm ứng còn lại là 925.000 đồng là phù hợp (đã hoàn trả xong theo biên bản giao nhận ngày 24/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk).
Về lệ phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Người yêu cầu anh Huỳnh T là cá nhân thuộc hộ nghèo đã được miễn nộp tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, cần miễn nộp toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho anh Huỳnh T là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu anh Huỳnh T.
- Tuyên bố chị Cầm Thị Ô mất tích.
- Về chi phí thông báo, nhắn tin: Người yêu cầu anh Huỳnh T phải chịu chi phí thông báo, nhắn tin số tiền 4.075.000 đồng (đã chi phí xong), được khấu trừ vào số tiền 5.000.000 đồng anh Huỳnh T đã nộp tạm ứng, hoàn trả lại cho anh Huỳnh T số tiền tạm ứng còn lại là 925.000 đồng (đã hoàn trả xong theo biên bản giao nhận ngày 24/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk).
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Miễn nộp toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm cho anh Huỳnh T.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn là 10 kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 8 – Đắk Lắk; - UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk; - Người yêu cầu; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký, đóng dấu) Hoàng Văn Vân |