- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020;
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2025/QĐ- TA | Bỉm Sơn, ngày 21 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Tống Thị H
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Trịnh Văn L, sinh năm: 1965; CCCD số: 038065029401; ngày cấp 19/8/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát ĐKQL và DLQG về dân cư; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Nơi cư trú: khu phố E, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự:không; Nhân thân: là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2017; Ngày 04/3/2024 Chủ tịch UBND phường P, thị xã B ra quyết định số 52/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời gian từ 04/3/2024 đến ngày 04/3/2025. Tuy nhiên ngày 25/12/2024 Công an phường P, thị xã B phát hiện L vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy bằng hình thức tiêm chích. Xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa thị xã B, Trịnh Văn L dương tính với ma túy.
Con ông: Trịnh Văn H1; con bà: Nguyễn Thị D (đã chết)
(Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B: Ông Phan Anh D1 - sinh năm: 1982, chức vụ: chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B (theo giấy ủy quyền ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn:
Bà Đỗ Thị Minh - Kiểm sát viên
NHẬN THẤY:
Trịnh Văn L, sinh ngày: 10/10/1965, là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2017, Ngày 26/12/2024 Công an phường P, thị xã B yêu cầu L đi kiểm tra chất ma tuý có trong cơ thể tại Bệnh viện đa khoa thị xã B. Sau khi kiểm tra tại bệnh viện Đ kết quả cho thấy bản thân L có dương tính với chất ma tuý (Heroin). Do vẫn nghiện ma túy Công an phường P đã căn cứ khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 nhận thấy Trịnh Văn L nằm trong diện đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại bản tường trình ngày 26/12/2024, L khai vào hồi 6 giờ 30 phút, ngày 26/12/2024 công an phường P, thị xã B thực hiện việc test nhanh ma tuý, kết quả test L dương tính với M (heroin). L tự báo cáo về việc sử dụng trái phép chất ma tuý: Sáng ngày 25/12/2024 L đi xe máy ra K, Ninh Bình gặp người đàn ông tên C để mua ma tuý về sử dụng. L quen C cách đây hơn một năm, L không biết địa chỉ của C nơi nào. Mỗi lần mua ma tuý của C hai bên giao dịch ngoài đồng thuộc K, Ninh Bình. Đến 20 giờ ngày 25/12/2024 L có ra khu đất phía sau nhà thờ Đ để sử dụng, L mua ma tuý sử dụng một mình.
Sau khi Chủ tịch UBND phường P lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Trịnh Văn L gửi phòng Thương Binh xã hội thị xã B thẩm định và căn cứ kết quả đó phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B đã có công văn số: 06/ĐN- CNBB ngày 09/01/2025 chuyển hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xem xét áp dụng đưa Trịnh Văn L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm C1, địa chỉ: xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B tiếp tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm C1 đối với Trịnh Văn L, để L có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 15 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng phiên họp công bố quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định số 116 hướng dẫn Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy; Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Đề nghị Hội đồng phiên họp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn L từ 12 đến 15 tháng.
XÉT THẤY:
Trịnh Văn L là đối tượng quản lý cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định 52/QĐ-UBND ngày 04/3/2024 thời gian từ 04/3/2024 đến ngày 04/3/2025. Tuy nhiên ngày 25/12/2024 Công an phường P, thị xã B phát hiện L vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy bằng hình thức tiêm chích. Xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa thị xã B, Trịnh Văn L dương tính với ma túy. Vì vậy, chủ tịch UBND phường P đã Quyết định số: 27/QĐ-UBND ngày 08/01/2025 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng với trình tự quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm: Trịnh Văn L là người nghiện ma túy, ngày 04/3/2024 Chủ tịch UBND phường P ra Quyết định về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 52/QĐ-UBND ngày 04/3/2024 từ ngày 04/3/2024 đến ngày 04/3/2025. Ngày 26/12/2024 Công an phường P, thị xã B thực hiện việc test nhanh ma tuý tại Bệnh viện đa khoa thị xã B, kết quả Trịnh Văn L dương tính với ma túy nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trịnh Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét về nhân thân Trịnh Văn L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời UBND phường P xác nhận hoàn cảnh gia đình L gặp nhiều khó khăn, con cái đi làm ăn xa, vợ thì ốm đau thường xuyên, bản thân L bị bệnh hen xuyễn, sức khoẻ yếu, thường phải đi cấp cứu. Tuy nhiên, Trịnh Văn L là người nghiện ma túy, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng Trịnh Văn L sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/12/2024 Trịnh Văn L vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trịnh Văn L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để L có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: Khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020;
- Khoản 1 Điều 27 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;
- Điều 40, 41, 42, 43 và Điều 54 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
- Điều 12, 13, 17, 20, 21, 23, 25, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13/12/2022
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn L.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng tại Trung tâm C1, địa chỉ: xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trịnh Văn L có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Tòa án niêm yết quyết định.
Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B phối hợp Công an thị xã B, có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng Trịnh Văn Long; - Phòng LĐ-TBXH thị xã Bỉm Sơn; - VKSND thị xã Bỉm Sơn; - Công an thị xã Bỉm Sơn; - Công an phường Phú Sơn; - UBND phường Phú Sơn; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN TỐNG THỊ HÀ |