- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2025/QĐ-TA | Lâm Đồng, ngày 12 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÂM ĐỒNG
Với thành phần những người tiến hành phiên họp gồm có :
1. Thẩm phán: Ông Hà Hải Dương
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Thanh
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 01/QĐ-TA ngày 01 tháng 8 năm 2025, đối với:
Họ và tên: Phạm Văn T; Giới tính: nam; Sinh ngày 05/4/1988; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nguyên quán: Nghệ An; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Tự do; Tiền án: 02 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; con ông Phạm Hồng T1 (đã chết) và bà Tạ Thị M (đã chết); Phạm Văn T bị áp dụng biện pháp quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 18/7/2025 đến nay. Có mặt.
Có sự tham gia:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Trọng Đ; Chức vụ: Cán bộ Công an xã N, tỉnh Lâm Đồng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không có.
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không có.
5. Những người khác: Không có.
NHẬN THẤY:
Phạm Văn T có sử dụng chất ma túy từ năm 2018 và đã từng có 02 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, mới chấp hành hình phạt tù về địa phương nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, hiện nay đang đi làm thuê, lao động tự do, không có nơi cư trú ổn định. Vào ngày 17/7/2025 thì Phạm Văn T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và cũng như nhiều ngày trước đó đã sử dụng chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện cũng như các biện pháp thay thế. Tại bản tường trình ngày 17/7/2025, Phạm Văn T thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy từ năm 2018, đã có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vào năm 2025 thì Phạm Văn T chấp hành án phạt tù xong về địa phương nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, từ tháng 01 năm 2025 đến nay thì không có nơi sinh sống ổn định. Lần gần nhất T sử dụng trái phép chất ma túy là ngày 17/7/2025, loại ma túy sử dụng là M1 hay còn gọi là ma túy đá. Công an xã N đã đưa ông Phạm Văn T đi xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm y tế K, Lâm Đồng và ngày 18/7/2025 Trung tâm y tế khu vực L, Lâm Đồng xác định Phạm Văn T có nghiện ma túy loại Methaphetamine. Công an xã N đã ban hành Thông báo số 01/TB-CAX ngày 19/7/2025, thông báo cho Phạm Văn T về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tại biên bản làm việc ngày 28/7/2025, Phạm Văn T trình bày do hoàn cảnh gia đình và điều kiện gia đình không có kinh phí để đi cai nghiện tự nguyên, bản thân không có khả năng đi cai nghiện tự nguyện do đó đã từ chối việc đăng ký cai nghiện tự nguyện bằng các biện pháp thay thế tại các cơ sở cai nghiện ma túy.
Phạm Văn T là người là “người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện”, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, đồng thời, Công an xã N có văn bản số 04/ĐN-CAX ngày 29/7/2025 về việc đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
Đại diện Công an xã N trình bày: Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T đã hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Ông Phạm Văn T được xác định là “người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện”, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Đại diện Công an xã N giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại văn bản số: 04/ĐN-CAX ngày 29/7/2025; Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: T, thôn P, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng với thời gian cai nghiện bắt buộc là 24 tháng.
Người bị đề nghị ông Phạm Văn T cho rằng mức đề nghị 24 tháng của cơ quan đề nghị là quá nặng, mong chủ tọa phiên họp xem xét giảm bớt để ông sớm có cơ hội về với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; việc thông báo thụ lý và ra Quyết định mở phiên họp, tống đạt các văn bản tố tụng và tiến hành phiên họp của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng về cơ bản đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng chấp nhận đề nghị của Công an xã N, xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời hạn 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào phiếu trả kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm y tế K, Lâm Đồng về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Phạm Văn T, cùng các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận ông Phạm Văn T là “người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện”, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy và bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐCP ngày 21/12/2021.
Xét hồ sơ đề nghị đã được Công an xã N, tỉnh Lâm Đồng lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các điều 6, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; các điều 40, 41, 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Công an xã N có văn bản đề nghị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của Phạm Văn T thấy rằng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, phá hoại hạnh phúc gia đình là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Phạm Văn T nghiện ma túy từ năm 2018, đã từng có 02 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, mới chấp hành về địa phương nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, hiện nay đang đi làm thuê, lao động tự do, không có nơi cư trú ổn định và vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy là M1. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là cần thiết để chữa bệnh, lao động, học nghề giúp Phạm Văn T trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét thấy, thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng theo đề nghị của Đại diện Công an xã N và của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng là phù hợp và có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính. Điều 2; khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 24; Điều 25; khoản 1 Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA – VKSNDTC – TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày bị áp dụng biện pháp quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: 18/7/2025.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Ông Phạm Văn T có quyền khiếu nại quyết định này; Công an xã N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định (12/8/2025).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã N chủ trì đưa ông Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: T, thôn P, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 3 – Lâm Đồng; - Công an xã Nam Ban Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; - Công an xã Đông Thành, tỉnh Nghệ An - UBND xã Nam Ban Lâm Hà; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Hà Hải Dương |