- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1990, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Kỳ V, xã Quảng Ng, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Nâm N’J, huyện Đắk S, t…
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2025/QĐ-TA | Đắk Song, ngày 03 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phá n: Ông Đoàn Công Tài;
2. Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Khải.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, ta ̣i tru ̣ sở Toà án nhân dân huyê ̣n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tiến hành phiên ho ̣p xem xét, quyết đi ̣nh áp du ̣ng biê ̣n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết đi ̣nh mở phiên ho ̣p số: 01/QĐ-TA ngày 20 tháng 02 năm 2025 và thông báo về việc hoãn phiên họp số: 01/TB-TLHS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lê Hữu T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1990, tại tỉnh Thanh Hoá.
Căn cước công dân số: 038090053367; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông.
Hộ khẩu thường trú: Thôn Kỳ V, xã Quảng N, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá.
Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Nâm N’J, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông.
Tiền án: Có 01 bị Toà án nhân dân huyện Đắk Song xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2022/HSST ngày 30-12-2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14-3-2024; tiền sự: Có 01, đang chấp hành Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 22-3-2024 của Chủ tịch UBND xã Quảng N, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá.
Con ông Lê Hữu Th và bà Lê Thị L.
Lê Hữu T vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghi ̣: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk S: Đại diện theo pháp luật ông Bùi Ng – Chức vụ: Trưởng phòng; người được ủy quyền bà Hồ Thị Thu U – Chức vụ: Phó Trưởng phòng tham gia phiên họp.
2. Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Đắk Song: Ông Nguyễn Trọng Đạt – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Lê Hữu T sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 09-01-2025, Lê Hữu T khai nhận: T hiện đang sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức sử dụng là hút, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine và Amphetamin. Do đó, UBND xã Nâm N’J, huyện Đắk S đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lê Văn T.
Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20 tháng 01 năm 2025, Trung tâm y tế huyện Đắk Song xác định: Lê Hữu T có dương tính với ma tuý dạng Methamphetamine và Amphetamin.
Qua phiếu xác minh thông tin về cư trú, kết quả xác minh thể hiện Lê Hữu T đang thuộc diện quản lý chấp hành Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 22-3-2024 của Chủ tịch UBND xã Quảng Ng, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá nhưng vào ngày 09-01-2025 Lê Hữu T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, UBND xã Nâm N’J xác minh và lập biên bản vi phạm đối với Lê Hữu T.
Trên cơ sở đã xác minh Lê Văn T sử dụng trái phép chất ma túy, xác minh tình trạng nghiện chất ma túy và Lê Hữu T đang thuộc diện quản lý chấp hành Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 22-3-2024 của Chủ tịch UBND xã Quảng Ng, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá nhưng vào ngày 09-01-2025 Lê Hữu T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, Công an và UBND xã Nâm N’J đã tiến hành lập hồ sơ và đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo đề nghị số 01/ĐN-CBBB ngày 22-01-2025. Hồ sơ đã được thẩm định, kiểm tra tính pháp lý và chuyển đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk S.
Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk S có ý kiến: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T theo văn bản đề nghị số 01/ĐN-CNBB ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk Song và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 01; địa chỉ: Thôn B, xã Đắk R’T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông có ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình lập hồ sơ đề nghị, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T đã tuân theo đúng quy định pháp luật và đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T.
XÉT THẤY:
. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Đắk Song tiến hành mở phiên họp theo quyết đi ̣nh mở phiên ho ̣p số: 01/QĐ-TA ngày 20 tháng 02 năm 2025 và thông báo về việc hoãn phiên họp số: 01/TB-TLHS ngày 26 tháng 02 năm 2025. Xét thấy tại phiên họp lần thứ nhất Lê Hữu T vắng măt, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo hoãn phiên họp hợp lệ cho Lê Hữu T. Tuy nhiên, tại phiên họp lần thứ hai Lê Hữu T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định pháp luật
. Về nội dung: Hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông về việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T là hợp pháp, đảm bảo các quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của người bị đề nghị thì thấy: Lê Hữu T đã trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy, đang thuộc diện quản lý chấp hành Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 22-3-2024 của Chủ tịch UBND xã Quảng Ng, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá nhưng vào ngày 09-01-2025 Lê Hữu T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Trung tâm y tế huyện Đắk S về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Lê Hữu T cho thấy tại thời điểm xét nghiệm, T vẫn còn nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine và Amphetamin. Lê Hữu T đã vi phạm trong quá trình chấp hành cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.
Xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức độ nhận thức của Lê Hữu T thấy: Lê Hữu T bị áp dụng tình tiết tăng nặng là đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính quy định tại điểm h khảon 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và được hưởng tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện khai báo hành vi vi phạm của mình quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên cần giảm nhẹ trách nhiệm hành chính đối với Lê Hữu T.
Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm h khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; điểm 49 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 96; điểm 56 sửa đổi, bổ sung Điều 103; điểm 58 sửa đổi, bổ sung Điều 107; điểm 59 sửa đổi, bổ sung Điều 110 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Các Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33; Điều 40, Điều 41, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy với thời hạn 18 tháng để Lê Hữu T chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề một cách bắt buộc dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01; địa chỉ: Thôn B, xã Đắk R’T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đắk Nông là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1990, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Kỳ V, xã Quảng Ng, huyện Quảng X, tỉnh Thanh Hoá và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Nâm N’J, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông tại Cơ cở cai nghiện ma túy số 01; địa chỉ: Thôn B, xã Đắk R’T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông có quyền kiến nghị trong hạn 05 ngày, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông có quyền kháng nghị trong hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông; Công an huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, Cơ sở cai nghiện ma túy số 01.
| Nơi nhận: - Công an huyện Đắk S (để thực hiện); - PhòngLĐ-TBvàXH huyệnĐắk S (đểthực hiện); - VKSND huyện Đắk Song; - UBND xã Nâm N’j; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 01; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Đoàn Công Tài |