vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐ-TA

TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 14/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc:

Đối với: Trần Đức L, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn 5, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh. Con ông Trần Văn Qu và bà Phạm Thị Hoa C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc:
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BUÔN ĐÔN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐ-TA.Buôn Đôn, ngày 14 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Hối.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2025/QĐ-TA ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với:

Trần Đức L; sinh ngày 09/10/1993; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Con ông: Trần Văn Qu và con bà Phạm Thị Hoa C;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn 5, xã EB, huyện B, tỉnh Đắk Lắk;

Chỗ ở hiện nay: Thôn 5, xã EB, huyện B, tỉnh Đắk Lắk;

Hiện anh Trần Đức L đang được gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đăk Lăk: Ông Nông Quang Tr – Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn: Bà Vi Thị Hằng - Kiểm sát viên.

- Người bị đề nghị: Trần Đức L.

Địa chỉ: Thôn 5, xã EB, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN THẤY:

Trần Đức L là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 15/12/2024 Công an xã EB mời Trần Đức L lên và ngày 16/12/2024 tiến hành xét nghiệm chất ma túy thì phát hiện dương tính với (loại Amphetamin – AMP- Methaphetamin).

Ngày 21/12/2024 Công an xã EB đã lập biên bản về hành vi vi phạm quy định trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 20/12/2024, Ủy ban xã EB đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L.

Do đó, phòng Lao động thương binh và xã hội có văn bản đề nghị Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B đề nghị: Trần Đức L có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy- là đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Sau khi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trần Đức L đã tự nguyện khai báo, thành thậthối lỗi làtìnhtiếtgiảmnhẹ quyđịnh tạikhoản2 Điều 9 Luật xửlý vi phạmhành chính. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 11, 12, 16, 17, 20 của Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Được thực hiện đúng quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và sự cần thiết, thời gian đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L với thời gian từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Phòng lao động, Thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn và ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

[1] Người bị đề nghị Trần Đức L vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 Điều 18 và khoản 1 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành phiên họp.

[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L được lập đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thẩm quyền của Tòa án: Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Buôn Đôn có văn bản số 09 /ĐN-LĐTBXH ngày 24/12/2024 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Trần Đức L là đối tượng nghiện ma túy.Trần Đức L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện sự xem thường pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Amphetamin) của Trần Đức L đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy; vi phạm khoản 1, khoản 16 Điều 2, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Đức L không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L nhằm giáo dục, giúp đỡ đối tượng sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh thể chất và tinh thần để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Xét đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc:

Đối với: Trần Đức L, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Thôn 5, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh. Con ông Trần Văn Qu và bà Phạm Thị Hoa C.

2. Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục giải quyết áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Trần Đức L là: 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: Thôn 04, xã T T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Anh Trần Đức L có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn có quyền kiến nghị, kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng

nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội

huyện Buôn Đôn phối hợp với Công an huyện Buôn Đôn đưa người phải chấp hành

quyết định vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Cỡ chữ