vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phi C về việc yêu cầu xác định cha cho con.

Xác định ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1934 là cha ruột của ông Nguyễn Phi C, sinh ngày 14/3/1978. Lệ phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Phi C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí Toà án ông C đã nộp (do bà Lê Trần Vân A nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu xác định cha cho con Nguyễn Phi Châu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phi C về việc yêu cầu xác định cha cho con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST-VHNGĐThủ Dầu Một, ngày 12 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ái Ngân.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Đình Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 501/2023/TLST-VHNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về “Yêu cầu xác định cha cho con” theo quyết định mở phiên họp số 01/2024/QĐST-VHNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Phi C, sinh năm 1978; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Số I (số cũ 6) đường N, tổ A, khu I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu: Bà Lê Trần Vân A, sinh năm: 1977; địa chỉ: số A đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14/11/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1933; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố C, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1946; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khu C, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo Đơn yêu cầu đề ngày 14/11/2023, quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình ông Nguyễn Phi C trình bày:

Ông C là con chung của ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1934, chết năm: 2013 và bà Đoàn Thị T, sinh năm: 1949, nhưng không đăng ký kết hôn. Hiện nay, do thông tin trên khai sinh của ông C có sai sót thông tin về cha và hồ sơ khai sinh lần đầu đã thất lạc, đồng thời ông X đã chết, vì vậy ông C yêu cầu xác định huyết thống để cập nhật tên cha. Mục đích: để chứng minh quan hệ huyết thống cho việc phân chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Văn X để lại.

Tại Bản tự khai ngày 04/12/2023, ông Nguyễn Văn S trình bày:

Ông S là con ruột của ông Nguyễn Văn C1 (không rõ năm sinh, năm chết) và bà Nguyễn Thị H (không rõ năm sinh, chết năm 1986). Ông S là anh ruột của ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1934, chết năm 2013 (Giấy chứng tử số 121/2013, quyển số 01/2010 do UBND phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đăng ký ngày 09/4/2013).

Theo ông S biết, từ năm 1975 ông X đã chung sống như vợ chồng với bà Đoàn Thị T và có 03 con chung, một người chết khi vừa sinh ra, ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Ngọc Minh C2. Gia đình ông X, bà T lúc đó sinh sống tại ấp C, V, T, Bình Dương. Sau một thời gian xảy ra mâu thuẫn vợ chồng nên bà T dẫn các con sang ở chung nhà với bà H. Đến năm 1986, bà H chết thì bà T và các con về quê ngoại sống cho đến nay. Mặc dù bà T không chung sống với ông X nhưng vẫn giữ mối quan hệ với bên nội của các con, vẫn đưa về thăm nom cha và họ hàng, có mặt trong các dịp lễ, Tết, ma chay cưới hỏi trong dòng họ.

Năm 2013, ông X chết, ông Nguyễn Phi C có về chịu tang tại nhà riêng của ông X. Trong gia đình đều thừa nhận ông C là con của ông X, là cháu ruột gọi ông S bằng bác.

Căn cứ vào sự thừa nhận và đồng ý trưng cầu giám định của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mối quan hệ huyết thống với ông Nguyễn Phi C là ông Nguyễn Văn S. Ông Nguyễn Văn S là anh ruột của ông Nguyễn Văn X, ông S và ông X cùng là con của ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H (Tờ khai CMND của ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X). Tại Bản kết luận giám định ADN số 7699/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 01/01/1933 và ông Nguyễn Phi C, sinh ngày 14/3/1978 có quan hệ huyết thống với nhau theo dòng cha (bác - cháu ruột). Các đương sự thống nhất với kết luận của V tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp, ông Nguyễn Phi C, ông Nguyễn Văn S vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 12 năm 2023, người làm chứng bà Nguyễn Thị Ú trình bày:

Bà Ú là con ruột của ông Nguyễn Văn C1 (không rõ năm sinh, năm chết) và bà Nguyễn Thị H (không rõ năm sinh, chết năm 1986). Bà Ú là em ruột của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1933 và ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1934, chết năm 2013 (Giấy chứng tử số 121/2013, quyển số 01/2010 do UBND phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đăng ký ngày 09/4/2013).

Bà Ú có mối quan hệ là cô ruột của ông Nguyễn Phi C do ông C là con ông Nguyễn Văn X và bà Đoàn Thị T (chung sống không có đăng ký kết hôn). Bà Ú biết ông C từ lúc mới sinh (năm 1978). Khi sinh ông C thì bà T chung sống với ông X tại ấp C, V, T, Bình Dương. Mặc dù ở nhà riêng nhưng cách nhà ba mẹ bà Ú không xa nên khi ông X đi làm thì ông C qua ở với bà nội (bà H) để ăn cơm, bà nội chăm sóc. Bà Ú biết ông C ở đó từ nhỏ đến lớn (chừng mười mấy tuổi) thì ông X và bà T xảy ra mâu thuẫn nên bà T dẫn ông C về bên ngoại sinh sống. Tuy nhiên, ông C và bà T vẫn thường xuyên qua lại với gia đình bên nội, các lễ tiệc hay đám giỗ trong gia đình ông C đều tham gia. Ngày ông X chết ông C chịu tang cha, trong gia đình dòng tộc xóm làng đều thừa nhận thực tế ông C là con ông X.

Bà Ú cam đoan lời khai trung thực, chịu trách nhiệm về lời khai của mình và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 27, 29 và 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Yêu cầu của ông C là việc hôn nhân và gia đình về yêu cầu xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại Bản kết luận giám định ADN số 7699/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Ông Nguyễn Văn S sinh ngày 01/01/1933 và ông Nguyễn Phi C, sinh ngày 14/3/1978 có quan hệ huyết thống với nhau theo dòng cha (bác - cháu ruột). Do đó, yêu cầu của ông C là có căn cứ, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông C

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Phi C yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn X là cha ruột của ông C, yêu cầu của ông Nguyễn Phi C là loại việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Phi C là người yêu cầu có nơi cư trú tại số I (số cũ 6) đường N, tổ A, khu I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ Bản kết luận giám định ADN số 7699/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 01/01/1933 và ông Nguyễn Phi C, sinh ngày 14/3/1978 có quan hệ huyết thống với nhau theo dòng cha (bác - cháu ruột). Các đương sự thống nhất với kết luận giám định. Căn cứ vào Tờ khai CMND của ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn S thể hiện ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn S là anh em ruột, là con của ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H.

Như vậy, sau khi xem xét yêu cầu của ông C, lời khai của ông S, lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị Ú cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, kết luận giám định và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 90 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì con có quyền nhận cha, mẹ của mình kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết. Dựa trên mối quan hệ huyết thống dòng cha (bác - cháu ruột) giữa ông Nguyễn Phi C và ông Nguyễn Văn S, đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Phi C là con ruột của ông Nguyễn Văn X (đã chết năm 2013). Căn cứ vào Điều 39 của Bộ luật Dân sự, Điều 88, Điều 90 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phi C về việc xác định ông Nguyễn Văn X là cha ruột của ông Nguyễn Phi C.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về chi phí giám định: Ông Nguyễn Phi C tự nguyện chịu toàn bộ được trừ vào số tiền tạm ứng ông C đã nộp.

Về lệ phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Phi C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí Toà án ông C đã nộp (do bà Lê Trần Vân A nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000443 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, các Điều 367, 369, 370, 371 và 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 39 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 88, 90, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phi C về việc yêu cầu xác định cha cho con.

Xác định ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1934 là cha ruột của ông Nguyễn Phi C, sinh ngày 14/3/1978.

2. Lệ phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Phi C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí Toà án ông C đã nộp (do bà Lê Trần Vân A nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000443 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự này trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định. Nơi nhận:

Cỡ chữ