vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S. Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông Phạm Văn S, sinh năm 1974, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T mất tích.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ – ST ngày 23/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định cho bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Phạm Văn S vẫn có hiệu lực pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn S phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông S yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố 1 người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S. Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông Phạm Văn S, sinh năm 1974, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01 /2024/QĐST-VDSVĩnh Lộc, ngày 26 tháng 4 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: “Yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hương Giang

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hương Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 10/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc: “Yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp số: 01/2024/QĐST - VDS ngày 17 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn S - Sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T.

Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T.

Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu ngày 28/3/2024 và tại bản tự khai ngày 01/4/2019 người yêu cầu là ông Phạm Văn S trình bày:

Ông sinh năm 1974, quê quán xã S, huyện H, tỉnh T và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979, cư trú tại Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; Nhưng đến ngày 21/01/2014 ông và bà Nguyễn Thị N mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện V, tỉnh T. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Thanh Hoá và sinh được 03 con chung là Phạm Văn N1 - sinh ngày 10/7/2002, Phạm Thị Quỳnh A - sinh ngày 11/3/2012 và Phạm Khánh H - sinh ngày 08/10/2013.

Đến khoảng tháng 6/2015, ông bỏ nhà đi khỏi địa phương làm ăn ở các tỉnh phía Nam, không liên lạc gì với vợ con và mất hết toàn bộ giấy tờ tùy thân. Đến tháng 3/2024, ông trở về địa phương đến Công an xã Y đề nghị làm thủ tục cấp căn cước công dân, thì mới được biết do vắng mặt thời gian dài tại nơi cư trú nên ông đã bị xoá tên trong sổ đăng ký thường trú tại địa phương và bà Nguyễn Thị N đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông mất tích. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, đã tuyên bố ông mất tích, theo quyết định số 50/2019/QĐST-VDS, ngày 05/12/2019. Đến năm 2020, bà Nguyễn Thị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với ông. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, đã giải quyết cho bà N ly hôn với ông, theo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ-ST, ngày 23/4/2020. Ông không có ý kiến gì về việc Tòa án tuyên bố ông mất tích và giải quyết việc ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị N; Ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, công nợ chung của ông và bà N.

Nay ông S đã trở về địa phương, nên ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc hủy bỏ quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST-VDS, ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố ông mất tích để đảm bảo quyền lợi cho ông. Ngoài ra, ông S không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề gì khác.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 09/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Trước đây bà với ông Phạm Văn S là vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2014. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên ông S đã bỏ nhà đi từ tháng 6/2015 sau đó không về và cũng không có tin tức gì. Năm 2019, bà đã làm đơn đề nghị Toà án tuyên bố một người mất tích đối với ông Phạm Văn S và Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định ông Phạm Văn S mất tích tại quyết định số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019. Nay ông Phạm Văn S đã trở về địa phương, có mặt tại Y, xã Y, huyện V, tỉnh T là đúng thực tế. Vì vậy, ông S đề nghị Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích số 50/2019/QĐST – VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá đối với ông S bà không có ý kiến gì. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do phải đi làm xa nên bà N có đơn xin vắng mặt tại phiên họp của Toà án.

Tại phiên họp, ông Phạm Văn S giữ nguyên yêu cầu Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông S mất tích.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa:

-Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng yêu cầu, đúng tư cách đương sự, việc dân sự giải quyết đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các Điều 367, 370, 371, 372, 390 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S, huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông Phạm Văn S mất tích. Các quyền về nhân thân của ông Phạm Văn S được khôi phục.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ – ST ngày 23/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định cho bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Phạm Văn S vẫn có hiệu lực pháp luật.

Về lệ phí: Ông Phạm Văn S phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc nhận định:

Về tố tụng: Ông Phạm Văn S có đơn yêu cầu Tòa án huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông Phạm Văn S mất tích. Vì vậy, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc thụ lý, giải quyết việc dân sự theo yêu cầu của ông Phạm Văn S là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N đã có văn bản trình bày rõ quan điểm, ý kiến, đồng thời đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, nên Toà án quyết định tiến hành phiên họp vắng mặt bà N.

Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Phạm Văn S cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, thấy rằng:

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá đã tuyên bố ông Phạm Văn S có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T mất tích do ông Phạm Văn S đi khỏi nơi cư trú từ tháng 6 năm 2015 không có tin tức gì. Vào thời điểm đó, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc tuyên bố ông S mất tích là hoàn toàn đúng pháp luật.

Nay, ông Phạm Văn S trực tiếp đến Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc nộp đơn yêu cầu huỷ bỏ quyết định của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc về việc tuyên bố ông mất tích. Ông S đã xuất trình các giấy tờ để chứng minh về nhân thân của mình như Đơn xin xác nhận có dán ảnh, có xác nhận của thôn Y và UBND xã Y. Kết quả xác minh của Toà án tại Công an xã Y, huyện V đều xác định: Sau khi bị Toà án tuyên bố mất tích, đến nay ông Phạm văn S đã trở về địa phương, hiện đang sinh sống tại thôn Y, xã Y, huyện V, có đủ năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn Thị N là người đã yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn S mất tích đến nay cũng đề nghị Toà án xem xét, giải quyết yêu cầu của ông S theo pháp luật. Ông S yêu cầu Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố ông mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật dân sự, nên chấp nhận.

Về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích:

Các quyền về nhân thân của ông Phạm Văn S được khôi phục.

Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 và Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ – ST ngày 23/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá chỉ tuyên bố ông Phạm Văn S mất tích, giải quyết cho bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Phạm Văn S mà không xác định ông S có tài sản và giao tài sản cho người thân thích của ông S quản lý. Vì vậy, Toà án không phải giải quyết về việc chuyển giao lại tài sản.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 70 Bộ luật dân sự, bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ – ST ngày 23/4/2020 của Toà án nhan dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị N và ông Phạm văn S vẫn có hiệu lực pháp luật.

Về lệ phí: Người yêu cầu là ông Phạm Văn S phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các Điều 367, 370, 371, 372, 390 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S. Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 50/2019/QĐST –VDS ngày 05/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về việc tuyên bố ông Phạm Văn S, sinh năm 1974, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh T mất tích. Các quyền về nhân thân của ông Phạm Văn S được khôi phục.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2020/HNGĐ – ST ngày 23/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định cho bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Phạm Văn S vẫn có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn S phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006078 ngày 29/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. (Ông S đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm).

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Phạm Văn S có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Bà Nguyễn Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.

Cỡ chữ