vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà H M Niê về việc: Tuyên bố ông Y B Byă mất tích kể từ ngày 01/01/2019.

Về chi phí đăng tin tìm kiếm ông Y B Byă mất tích: Bà H M Niê phải chịu 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng tin tìm kiếm ông Y B Byă mất tích. Chi phí này đã được bà H M Niê giao nộp tại Tòa án vào ngày 27/11/2023 và đã được Tòa án chi phí xong. Lệ phí sơ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà H M Niê Yêu cầu tuyên bố ông Y B Byă mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà H M Niê về việc: Tuyên bố ông Y B Byă mất tích kể từ ngày 01/01/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRẮK
TỈNH ĐẮK LẮK
Số: 01/2024/QĐST-VDS
M’Đrắk, ngày 15 tháng 04 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Hải.

Thư ký phiên họp: Bà Võ Linh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk tham gia phiên họp: Ông Y Gon Niê – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 04 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 123/2023/TLST–VDS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “ Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 31/2024/QĐST-VDS ngày 29/3/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà H M Niê, sinh năm 1996. Địa chỉ: Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt – có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Y B Byă, sinh năm 1987. Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú cuối cùng: Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. (Ông Y B Byă vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu, bản tự khai, bà H Miếp Niê trình bày:

Bà H M Niê với ông Y B Byă là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KJ, huyện M năm 2014. Bà H Mvà ông Y B có con chung là H L Niê sinh ngày 01/8/2014. Do mâu thuẫn vợ chồng nên ông Y B đã bỏ đi khỏi địa phương từ giữa năm 2018, bà H M đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của ông Y B. Bà H M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Y B mất tích.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk thụ lý vụ việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo yêu cầu của bà H M là đúng thẩm quyền, quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định đúng người tham gia tố tụng theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Tòa án đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định tại Điều 388 BLTTDS.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu của bà H M Niê là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk áp dụng Điều 369, Điều 370 BLTTDS, Điều 68 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà H Miếp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk nhận định:

Về tố tụng: Bà H M Niê yêu cầu tuyên bố ông Y B Byă mất tích. Ông Y B có đăng ký thường trú tại Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú cuối cùng: Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361 BLTTDS, yêu cầu của bà H M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

Về nội dung: Bà H M và ông Y B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã KJ, huyện M năm 2014. Bà H M và ông Y B có con chung là H L Niê. Do mâu thuẫn vợ chồng nên ông Y B đã bỏ đi khỏi địa phương từ giữa năm 2018 (không xác định được ngày và tháng), cho đến nay không có tin tức gì, mặc dù bà H M đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm.

Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk đã ra ban hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Y B, đăng tin thông báo tìm kiếm trên đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp gồm các ngày 30 tháng 11, ngày 01 và ngày 02 tháng 12 năm 2023, trên báo Công lý liên tiếp 03 số 97, 98 và 99 vào các ngày 06, 08 và 13 tháng 12 năm 2023 theo quy định của BLTTDS. Đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo đầu tiên cho đến nay cũng không có tin tức gì của ông Y B.

Kết quả xác minh, ông Y B có đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Buôn MB, xã KJ, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Ông Y B bỏ nhà đi từ năm 2018, không báo cho người thân thích và chính quyền địa phương được biết thông tin về nơi cư trú. Gia đình, người thân cũng không biết thông tin gì của ông Y B. Chính quyền địa phương đã xóa nhân khẩu thường trú đối với ông Y B từ ngày 02/7/2021.

Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Như vậy, có căn cứ xác định Y B có tin tức cuối cùng 01/01/2019. Quá trình giải quyết vụ việc, bà H M giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk tuyên bố ông Y B mất tích để làm thủ tục ly hôn với ông Y B . Yêu cầu của bà H M là phù hợp với Điều 388 của BLTTDS và Điều 68 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

Về lệ phí: Bà H M phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bà H M là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn lệ phí, tạm ứng lệ phí nên được miễn toàn bộ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 150, 370, 371, 372, 384, 385, 388 , 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà H M Niê về việc: Tuyên bố ông Y B Byă mất tích kể từ ngày 01/01/2019.

2. Về chi phí đăng tin tìm kiếm ông Y B Byă mất tích: Bà H M Niê phải chịu 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng tin tìm kiếm ông Y B Byă mất tích. Chi phí này đã được bà H M Niê giao nộp tại Tòa án vào ngày 27/11/2023 và đã được Tòa án chi phí xong.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà H M Niê được miễn toàn bộ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ