vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 13/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ly N (Lê Ngọc L, Lê Thị L1).

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự : Chị Lê Thị Ly N phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm và 3.000.000 đồng chi phí tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích nhưng được trừ vào số tiền chi phí và tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số CC/2021/0000356 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ly N (Lê Ngọc L, Lê Thị L1).
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST-VDSCam Lộ, ngày 13 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quý.

Thư ký phiên họp: bà Đinh Thị Tường Vy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên họp: bà Võ Thị Hương Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2023/TLST- VDS ngày 06 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-VDS ngày 05 tháng 3 năm 2024 , gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị Ly N (tên gọi khác: Lê Ngọc L, Lê Thị L1) sinh năm 1981, nơi cư trú: khối D, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn Á, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 12 tháng 7 năm 2023 và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Lê Thị Ly N trình bày:

Năm 2000, chị Lê Thị Ly N (Lê Ngọc L, Lê Thị L1) tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn Á tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Phạm Văn Á là thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Khoảng đến đầu năm 2020, anh Phạm Văn Á bỏ đi đâu không rõ địa chỉ, không có tin tức, chị N không thể liên lạc được với anh Phạm Văn Á. Chị N đã tìm kiếm và thông báo tìm kiếm anh Phạm Văn Á nhiều lần nhưng đến nay đã hơn 02 năm vẫn không có thông tin gì của anh Phạm Văn Á. Vì vậy, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Phạm Văn Á mất tích.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ đã thụ lý, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách tham gia tố tụng, giao nộp tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu: thực hiện đúng quy định tại các Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý, Thẩm phán đã ra quyết định thông báo, nội dung tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đăng trên B; Phát sóng trên đài tiếng nói VOV ba lần trong ba ngày liên tiếp; Làm thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên cổng thông tin của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đúng quy định tại Điều 384, 385 Bộ Luật tố tụng dân sự trong thời gian 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Phạm Văn Á.

- Về quan điểm giải quyết: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được có căn cứ xác định anh Phạm Văn Á đã bỏ đi khỏi địa phương trên 2 năm, không có tin tức gì. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 35; Điều 369, Điều 370, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ly N, tuyên bố anh Phạm Văn Á mất tích. Chị Lê Thị Ly N phải chịu lệ phí 300.000 đồng và các chi phí thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nhận định:

Về thủ tục tố tụng: chị Lê Thị Ly N yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Phạm Văn Á (chồng chị N) mất tích. Anh Phạm Văn Á có nơi cư trú cuối cùng tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Xét yêu cầu của chị Lê Thị Ly N: anh Phạm Văn Á có nơi cư trú cuối cùng tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Sau một thời gian sinh sống thì đến đầu năm 2020, anh Phạm Văn Á đi khỏi nơi cư trú nhưng không để lại tin tức gì. Chị Lê Thị Ly N đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Sau khi chị Lê Thị Ly N nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2023/QĐ-TA ngày 26/10/2023. Quyết định trên được thông báo trên Đài tiếng nói V vào các ngày 03, 04, 05 tháng 11 năm 2023; đăng trên B nhân dân trong 03 số liên tiếp vào các ngày 03, 08, 10 tháng 11 năm 2023; đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và C thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng thông báo lần đầu tiên về việc tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định tại Điều 384, Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh Phạm Văn Á. Xét thấy người yêu cầu chị Lê Thị Ly N đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Phạm Văn Á còn sống hay đã chết. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ly N về việc tuyên bố anh Phạm Văn Á mất tích.

Về lệ phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 149 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc chị Lê Thị Ly N phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm và 3.000.000 đồng chi phí tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí và chi phí đã nộp. Chị Lê Thị Ly N đã nộp đủ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 369, Điều 370, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 149 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ly N (Lê Ngọc L, Lê Thị L1). Tuyên bố anh Phạm Văn Á, sinh năm 1978; số CMND: xxx.xxx.xxx do Công an tỉnh Q cấp ngày 23/5/2017; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự : Chị Lê Thị Ly N phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm và 3.000.000 đồng chi phí tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích nhưng được trừ vào số tiền chi phí và tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số CC/2021/0000356 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lộ là 300.000đ. Chị Lê Thị Ly N đã nộp đủ.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ