- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim A"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| HUYỆN CƯM’GAR TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2024/QĐST-HNGĐ | CưMgar, ngày 03 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Xác định cha cho con trong trường hợp người cha đã chết”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK
Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Bế Văn Toàn.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số: 404/2024/TLST – VHNGĐ, ngày 29/10/2024, về việc “Xác định cha cho con trong trường hợp người cha đã chết”. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số 01/2024/QĐST – VDS ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 2003 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đậu Đình T, sinh năm: 1965 (Có mặt);
+ Bà Trần Thị T1, sinh năm 1970 (Có mặt).
Cùng trú tại: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình, chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Ngày 06 tháng 01 năm 2024, tôi và anh Đậu Đình H đã được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống, sau khi đám cưới chúng tôi đi làm tại tỉnh Bình Dương. Chúng tôi dự kiến vào tết nguyên đán năm 2024 sẽ về đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, vào ngày 03 tháng 02 năm 2024 anh H bị đột qụy qua đời, chúng tôi chưa kịp đăng ký kết hôn. Trong thời gian chúng tôi chung sống với nhau tôi đã mang thai, đến ngày 13/7/2024 tôi đã sinh con. Ngày 12/9/2024 tôi đã làm xét nghiệm cho con tôi và bà Trần Thị T1 (Là bà nội của cháu). Kêt quả thể hiện ADN từ mẫu Trần Thị T1 và ADN từ mẫu cháu Đậu Huỳnh Anh T2 có cùng nhiễm sắc thể X.
Để có căn cứ làm giấy khai sinh cho con tôi, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024 là con đẻ của anh Đậu Đình H, sinh năm 1995 (Anh H đã chết vào ngày 03/02/2024 theo Trích lục khai tử số 06/2024/TLKT – BS ngày 22/02/2024).
* Tại bản tự khai và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 và ông Đậu Đình T đồng ý với đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị Nguyễn Thị Kim A, đồng thời xác định bà T1 và ông T chỉ có một người con trai là anh Đậu Đình H, căn cứ kết quả giám định ADN đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar tuyên xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024 là con đẻ của anh Đậu Đình H, sinh năm 1995 và không bổ sung ý kiến gì thêm.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra Quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình, thẩm phán đã thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 366, Điều 377 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định tại Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, người yêu cầu đã làm bản tự khai, tham gia phiên họp đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ nội dung Công văn số 21/2024/CV-DT ngày 11/11/2024 của Trung tâm C giải thích, theo di truyền học, bà nội sẽ truyền Nhiễm sắc thể (NST) X cho người cha và người cha sẽ truyền lại NST X duy nhất này cho người con gái. Trong trường hợp người cha đã mất hoặc vì một lý do nào đó không thể thực hiện xét nghiệm cha-con gái, thì xét nghiệm tìm NST X giống nhau giữa bà nội và cháu gái là phương pháp duy nhất có thể thực hiện được. Nếu có cùng huyết thống thì giữa bà nội và cháu gái sẽ có 01 NST X giống nhau. Do đó, dựa vào kết quả xét nghiệm ADN giữa bà Trần Thị T1 và cháu gái Đậu Huỳnh A1 T2 có 01 NST X giống nhau. Kết luận: 02 người có huyết thống bà nội - cháu gái. Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 88, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Thẩm phán chủ trì phiên họp: Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A về việc đề nghị xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024, giới tính nữ, theo Giấy chứng sinh số 3195, quyển số T07.2024 ngày 13/7/2024 của Bệnh viện Đ là con của anh Đậu Đình H, sinh ngày 12/12/1995.
- Về lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim A được miễn lệ phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện CưMgar nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Kim A, trú tại thôn H, xã E, huyện C yêu cầu Tòa án xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024 là con đẻ của anh Đậu Đình H, sinh năm 1995. Đây là việc hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưMgar theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim A và bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 và ông Đậu Đình T khai:
Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Đậu Đình H tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống vào ngày 06/01/2024 nhưng chưa đăng ký kết hôn. Ngày 03/02/2024, anh Đậu Đình H chết. Trong thời gian chung sống với anh Đậu Đình H, chị Nguyễn Thị Kim A đã mang thai. Ngày 13/7/2024, chị Nguyễn Thị Kim A đã sinh 01 con, giới tính nữ, tại Bệnh viện Đ theo Giấy chứng sinh số 3195, quyển số T01.2024 ngày 13/7/2024 của Bệnh viện Đ (dự định đặt tên con là Đậu Huỳnh Anh T2).
Để có căn cứ xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024 là con đẻ của anh Đậu Đình H, sinh năm 1995 theo đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A, TAND huyện Cư M’gar đã gửi Công văn số 347/2024/CV-TA ngày 05/11/2024 để xác minh kết quả xét nghiệm ADN ngày 12/9/2024 của Công ty TNHH C1 mà chị Kim A cung cấp. Căn cứ nội dung Công văn số 21/2024/CV-DT ngày 11/11/2024 của Công ty TNHH C1 giải thích: Theo di truyền học, bà nội sẽ truyền Nhiễm sắc thể (NST) X cho người cha và người cha sẽ truyền lại NST X duy nhất này cho người con gái. Trong trường hợp người cha đã mất hoặc vì một lý do nào đó không thể thực hiện xét nghiệm cha - con gái, thì xét nghiệm tìm NST X giống nhau giữa bà nội và cháu gái là phương pháp duy nhất có thể thực hiện được. Nếu có cùng huyết thống thì giữa bà nội và cháu gái sẽ có 01 NST X giống nhau. Do đó, dựa vào kết quả xét nghiệm ADN giữa bà Trần Thị T1 và cháu gái Đậu Huỳnh A1 T2 có 01 NST X giống nhau. Kết luận: 02 người có huyết thống bà nội - cháu gái.
Quá trình giải quyết đơn yêu cầu và tại phiên họp: Chị Nguyễn Thị Kim A, bà Trần Thị T1 và ông Đậu Đình T xác định, ông T và bà T1 chỉ có một người con trai là anh Đậu Đình H, ngoài ra không còn con trai nào khác. Do đó có cơ sở để xác định cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024 là con đẻ của anh Đậu Đình H, sinh năm 1995 nên cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A.
Về chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Kim A đã nộp trực tiếp cho Công ty TNHH C1 nên Tòa án không đặt ra để xem xét.
Về lệ phí tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu xác định cha cho con, thuộc trường hợp được miễn lệ phí tòa án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 88, Điều 92, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị Nguyễn Thị Kim A .
[2] Xác định: Cháu Đậu Huỳnh Anh T2 (Tên dự định đặt), sinh ngày 13/7/2024, giới tính nữ, (Theo Giấy chứng sinh số 3195, quyển số T07.2024 ngày 13/7/2024 của Bệnh viện Đ) là con của anh Đậu Đình H, sinh ngày 12/12/1995, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 14/6/2022 (Anh Đầu Đình H1 đã chết vào ngày 03/02/2024 theo Trích lục khai tử số 06/2024/TLKT – BS ngày 22/02/2024).
[3] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu xác định cha cho con, thuộc trường hợp được miễn lệ phí tòa án theo Thông báo miễn tạm ứng lệ phí tòa án ngày 28/10/2024 của TAND huyện Cư M’gar.
[4] Về chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Kim A nhận nộp trực tiếp cho Công ty TNHH C1 nên Tòa án không xem xét.
[5] Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc hôn nhân gia đình có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư Mgar; - Chi cục THADS huyện CưMgar; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bế Văn Toàn |