vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-DS — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Hoàng Minh"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Nuôi con nuôi; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST-DS

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Quách Thị Mỹ Trúc

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Ngọc Thắm – Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 01 năm 2024, về việc “Yêu cầu chấm sứt việc nuôi con nuôi”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2024/QĐST-VDS, ngày 22 tháng 02 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên họp số 01/2024/TB-TA ngày 21 tháng 02 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Anh Phạm Hoàng M, sinh năm: 1979; địa chỉ: ấp A, thị trấn Nàng M, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

2. Chị Trang Thị Cẩm T, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp A, thị trấn Nàng M, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp A, thị trấn Nàng M, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

2. Chị Trang Ngọc B, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp A, thị trấn Nàng M, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, người yêu cầu anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T trình bày:

Trước đây anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T là vợ chồng có nhận cháu Phạm Hoàng Tấn P (Nguyễn Hoàng Tấn P) làm con nuôi vì cha mẹ ruột của cháu Phạm Hoàng Tấn P gặp khó khăn không thể tiếp tục nuôi con. Thủ tục nhận nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật được Ủy ban nhân dân thị trấn Nàng M ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND ngày 26/12/2011. Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T đã đăng ký khai sinh lại cho cháu Phạm Hoàng Tấn P từ Nguyễn Hoàng Tấn P sang Phạm Hoàng Tấn P. Tuy nhiên sau khi hoàn tất thủ tục nhận nuôi con nuôi và đăng ký khai sinh lại cho cháu Phạm Hoàng Tấn P xong thì cha mẹ ruột của cháu vẫn tiếp tục nuôi dưỡng cháu và cho đi học, đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho cháu đến nay. Đồng thời năm 2020 anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T đã ly hôn với nhau. Do đó, anh chị yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Hoàng Tấn P để cháu tiếp tục sống với cha mẹ ruột và làm lại giấy tờ cho phù hợp.

Tại phiên họp, anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T giữ nguyên yêu cầu. Chị Trang Ngọc B trình bày: Chị là mẹ ruột của cháu Phạm Hoàng Tấn P, do trước đây hoàn cảnh khó khăn nên chị và chồng chị là anh Nguyễn Văn Đ mới cho con cho vợ chồng em gái là chị Trang Thị Cẩm T. Việc cho con làm con nuôi có làm thủ tục đầy đủ. Tuy nhiên vợ chồng chị thương con nên đã tiếp tục nuôi con là Phạm Hoàng Tấn P đến nay và con được nuôi dưỡng tốt cho đi học đầy đủ. Nay vợ chồng chị muốn nhận lại con để thay đổi giấy tờ cho cháu cho phù hợp để đảm bảo quyền lợi về sau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lý do là anh Nguyễn Văn Đ đang đi làm ăn xa.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc thụ lý giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, cũng như việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu là đúng pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T. Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ đã được tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy giải quyết vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ.

Về thẩm quyền: Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Hoàng Tấn P. Tòa án căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ của việc dân sự là: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.

Về nội dung yêu cầu: Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T nhận cháu Phạm Hoàng Tấn P làm con nuôi và thực hiện các thủ tục nuôi con nuôi theo đúng quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân thị trấn Nàng M ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND ngày 26/12/2011. Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T đã đăng ký khai sinh lại cho cháu Phạm Hoàng Tấn P từ Nguyễn Hoàng Tấn P sang Phạm Hoàng Tấn P. Tuy nhiên sau khi hoàn tất các thủ tục nuôi con nuôi thì cháu Phạm Hoàng Tấn P vẫn được cha mẹ ruột là anh Nguyễn Văn Đ và chị Trang Ngọc B nuôi dưỡng tốt và cho học tập đầy đủ cho đến nay. Năm 2020 anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T đã ly hôn theo Quyết định số 303/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/12/2024. Do đó, anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T không có điều kiện để cùng nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng Tấn P. Và thực tế cháu Phạm Hoàng Tấn P cũng sống cùng cha mẹ ruột. Do đó, việc chấm dứt việc nuôi con nuôi là cần thiết nên yêu cầu của Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T phải chịu theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Ðiều 149, khoản 3 Ðiều 367, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ðiều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình; Ðiều 27 của Luật Nuôi con nuôi; khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T.

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa anh Phạm Hoàng M, chị Trang Thị Cẩm T với cháu Phạm Hoàng Tấn P sinh ngày 07/10/2011 (Quyết định số 547/QĐ-UBND ngày 26/12/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn Nàng M, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang).

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí, lệ phí anh Phạm Hoàng M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008496 ngày 09/01/204. Anh Phạm Hoàng M và chị Trang Thị Cẩm T đã nộp xong, không phải nộp thêm.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

4. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ