- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ GQ VIỆC DÂN SỰ TUYÊN BỐ MẤT TỊCH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Bùi Đăng D.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Thông tư số 236/2016/TT-BTC Quy định về giá dịch vụ thẩm địn…; Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Số: 01/2024/QĐST - DS | Sông Mã, ngày 21 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tạm giao tài sản của người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lô Văn Long
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên họp: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích và tạm giao tài sản người bị tuyên bố mất tịch Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 32/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Đăng D, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị Thương H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Đại diện là ông Hoàng Văn Tuấn – Phó giám đốc. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu đề ngày 09/10/2023 và đơn yêu cầu bổ sung đề ngày 23/10/2023 của anh Bùi Đăng D đã trình bày:
Gia đình anh có bố là ông Bùi Chí D và mẹ là bà Nguyễn Thị Th đều đã chết, gia đình chỉ còn anh và một người em gái là Bùi Thị Thương H, sinh năm 1986. Đều cư trú tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Khi chết bố mẹ anh có để lại một thửa đất và nhà tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Đến năm 2022 Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã có quyết định thu hồi khối tài sản nhà cửa đất đai do bố mẹ tôi để lại để thực hiện dự án” San nền khu quy hoạch cây xanh khu đô thi Hưng Mai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Số tiền được xác định bồi thường hỗ trợ cho gia đình là 852.847.428 đồng. Khi thực hiện bồi thường do gia đình chỉ còn hai anh em, nên được xác định là người thừa kế của số tiền bồi thường nêu trên và xác định phần anh 426.423.714 đồng, của em gái anh là 426.423.714 đồng, anh D đã nhận đủ phần tiền bồi thường của anh, còn chị H do không có mặt tại địa phương, Ban quản lý dự án đã thực hiện đăng tin tìm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định nhưng vẫn không có tin tức gì, do đó số tiền bồi thường phần của chị H chưa được thanh toán. Chị H đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2019 cho đến nay chưa có tin tức gì, gia đình và địa phương đã tìm kiếm nhưng không ai biết chị H ở đâu? Để đảm bảo quyền lợi của em gái cũng như của anh, anh đề nghị Toà án tuyên bố chị H mất tích và đề nghị tạm giao cho anh quản lý số tiền giải phóng mặt bằng phần của chị Bùi Thị Thương Huyện được hưởng là 426.423.714đ để anh quản lý, anh sẽ có trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật.
Tại văn bản số 37/QLDA ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Ban quản lý dự án huyện Sông Mã cung cấp thông tin và ý kiến đối với yêu cầu của anh D như sau:
Tại Quyết định số 1503/QĐ-UBND ngày 04/4/2022 của Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã về việc phê Dệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án: San nền khu quy hoạch cây xanh khu đô thị Hưng Mai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La (đợt 4) thì tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ hộ gia đình anh Bùi Đăng D ( Bùi Chí D) được nhận là 852.847.428đ. Tại thời điểm thực hiện bồi thường, hỗ trợ ông Bùi Chí D và bà Nguyễn Thị Thuẫn (bố, mẹ anh Bùi Đăng D và chị Bùi Thị Thương H) chết mà không để lại di chúc; anh Bùi Đăng D đang thụ lý án tại Trại giam Yên Hạ, chị Bùi Thị Thương H không có mặt tại địa phương, nên ngày 10/6/2022 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Sông Mã, UBND xã Nà Ngh đã làm việc với anh Bùi Đăng D, thống nhất chi trả tiền hỗ trợ bồi thường như sau: Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 852.847.428đ sẽ được chia đôi cho ông Bùi Đăng D và chị Bùi Thị Thương H mỗi người được hưởng số tiền là 426.423.714đ. Do không liên lạc được với chị Bùi Thị Thương H nên số kinh phí 426.423.714đ của chị H được hưởng theo quy định đã được nộp trả hoàn tạm ứng vào công trình ngày 10/7/2023. Về nội dung anh Bùi Đăng D (anh trai ruột của chị H đề nghị được quản lý số tiền này, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật hiện hành.
Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã ngày 31/10/2023 tại bản Trại G, xã Nà Ngh, ông Lò Văn Thinh – Trưởng bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã cho biết: Ông Bùi Chí D và bà Nguyễn Thị Thuẫn có hai người con là Bùi Đăng D và Bùi Thị Thương H đều cư trú tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã. Ông D và bà Thuẫn chết có để lại một thửa đất cùng tài sản trên đất tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã hiện tại mảnh đất đã bị nhà nước thu hồi theo dự án xây dựng khu đô thị mới, anh D và chị H là người đượng hưởng thừa kế phần giá trị bồi thưởng, anh D đã nhận tiền bồi thường phần anh D được hưởng, còn chị H do không có tung tích gì mặc dù đã được đăng tin thông báo nên số tiền bồi thường phần của chị H vẫn do Ban quản lý dự án quản lý. Còn về thông tin cư trú của chị H, trước đây chị H có cư trú tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã nhưng cho đến khoảng năm 2018 chị H đã bỏ đi đâu, làm gì không rõ tung tích, không báo gia đình và địa phương, gia đình và địa phương cho đến nay.
Theo kết quả xác minh tại Công an xã Nà Ngh về xác nhận thông tin cư trú đối với Bùi Thị Thương H, đồng chí Trưởng công an xã Nà Ngh cho biết, từ năm 2018 khi bắt đầu triển khai thực hiện chuyển đổi số về quản lý dân cư cho đến nay gia đình và chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều biện pháp để liên lạc, thu thập thông tin về nơi cư trú của chị H nhưng vẫn không có tung tích gì, chị H không cắt khẩu đi đâu, không khai báo việc xuất nhập cảnh, cũng không đăng ký thường trú ở nơi khác, do vậy không có thông tin gì về nơi cư trú hiện nay của chị H.
Tại Quyết định số 03 ngày 01/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Bùi Thị Thương H. Anh Bùi Đăng D đã thực hiện nghĩa vụ đóng lệ phí và được Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) và Báo công lý tiếp nhận và phát tin trên VOV2 và đăng trên 4 số báo liên tiếp.
Tại phiên họp anh Bùi Đăng D vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, yêu cầu tuyên bố chị H mất tích, đề nghị được tạm quản lý tài sản của chị H là số tiền được bồi thường nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 65, Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Bùi Đăng D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Sông Mã nhận định:
Anh Bùi Đăng D có yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Bùi Thị Thương H có nơi cư trú tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La mất tích, do đó quan hệ pháp luật của việc dân sự được xác định là "yêu cầu tuyên bố một người mất tích", thuộc quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã theo quy định tại Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Bùi Thị Thương H được thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú và thông báo mất tích trên các phương tiện thông tin hết thời hạn mà vẫn biệt tích, nên Tòa án tiến hành mở phiên họp theo quy định của pháp luật.
Về nội dung yêu cầu giải quyết:
Về việc tìm kiếm người vắng mặt nơi cứ trú, yêu cầu tuyên bố mất tích:
Theo đơn yêu cầu anh Bùi Đăng D yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và đề nghị tuyên bố mất tích trong trường hợp đủ điều kiện và yêu cầu được quản lý tài sản đối với chị chị Bùi Thị Thương H, sinh năm 1986, có nơi cư trú cuối cùng tại bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Các ngày 09/10/11 tháng 11/2023 đài VOV2 đã phát tin tìm kiếm chị H và các số báo 91,92 và 93 ra ngày 15,17 và 22/11/2023 của Báo công lý về tìm kiếm chị Bùi Thị Thương H, nhưng hết thời hạn 04 tháng đăng tin tìm kiếm vẫn không có tung tích gì của chị Bùi Thị Thương H. Kết quả xác minh tại địa phương cũng xác định chị Bùi Thị Thương H mất tích từ năm 2018 cho đến nay vẫn không có tung tích gì. Cho thấy chị Bùi Thị Thương H đã biệt tích được trên hai năm, do vậy, căn cứ vào Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự cần chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Đăng D về việc tuyên bố chị H mất tích.
Về yêu cầu quản lý tài sản của chị Bùi Thị Thương H:
Xét thấy anh Bùi Đăng D và Bùi Thị Thương H là người được thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng của bố mẹ đẻ, phần của chị H là 426.423.714đ đến nay chưa được giao cho ai quản lý, thời điểm chị H vắng mặt tại nơi cư trú số tiền này chưa được giao cho người thân quản lý, đến thời điểm giải quyết việc dân sự xác định được anh Bùi Đăng D là người thân D nhất của chị Bùi Thị Thương H, do vậy cần tạm giao số tiền bồi thường nêu trên cho anh Bùi Đăng D tạm quản lý, nếu chị H trở về anh D phải có trách nhiệm giao lại số tiền nêu trên cho H, nếu chị H có yêu cầu căn cứ là phù hợp theo quy định tại Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 65, Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Bùi Đăng D phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2, 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367; ĐIều 372; Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 65, Điều 66, Điều 67, khoản 1 Điều 68, Điều 69 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Bùi Đăng D.
1.1. Tuyên bố chị Bùi Thị Thương H, sinh năm 1986. Nơi cư trú cuối cùng: Bản Trại G, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La mất tích.
1.2. Tạm giao cho anh Bùi Đăng D quản lý số tiền 426.423.714đ của chị Bùi Thị Thương H được tiền bù theo Quyết định số 1503/QĐ-UBND ngày 04/4/2022 của Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã về việc phê Dệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án: San nên khu quy hoạch cây xanh khu đô thị Hưng Mai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La , theo Biên bản làm việc với ông Bùi Đăng D ngày 10/6/2022 do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Sông Mã lập, số tiền này hiện đã được nộp trả kinh phí theo chứng từ nộp ngày 10/7/2023 tại Kho bạc Nhà nước Sông Mã – Sơn La.
Ban Quản lý dự án huyện Sông Mã có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo định pháp luật về trao trả lại số tiền nêu trên cho anh Bùi Đăng D tạm quản lý.
Anh Bùi Đăng D có nghĩa vụ giữ gìn tài sản của chị Bùi Thị Thương H như tài sản của chính mình. Thực hiện nghĩa vụ tài chính khác của chị H bằng tài sản của chị H theo quyết định của Toà án.
Anh Bùi Đăng D có trách nhiệm giao lại số tiền nêu trên cho chị H khi chị H trở về và phải thông báo cho Toà án biết; Nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Đăng D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0000714 ngày 12/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã. Anh Bùi Đăng D nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Lô Văn Long |