vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Xuân Đ; Tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là mất tích.

Ngày mất tích của ông Nguyễn Văn M được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 2023. Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Văn M được giải quyết như đối với người mất tích. Quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn M được gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố một người mất tích đối với ông Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Xuân Đ; Tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST - DSBình Xuyên, ngày 14 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Tám

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Hà; Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Giang Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự, thụ lý số 103/2023/TLST – VDS, ngày 14 tháng 12 năm 2023, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”; theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2024/QĐST –VDS, ngày 15 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Cụ Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1936; “có mặt”

Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Đ: Bà Trần Thị Ngân – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984, “vắng mặt”.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Ông Nguyễn Cao Đ1, sinh năm 1963, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. “vắng mặt”.

+ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1967, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1970, “vắng mặt”.

Trú tại: Số nhà 251, đường N, tổ 4, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977, “vắng mặt”.

Trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, “vắng mặt”.

Trú tại: Đội 2, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Cao Đ1, ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H là cụ Nguyễn Xuân Đ, (Văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 12 năm 2023).

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn V là cụ Nguyễn Xuân Đ, (Văn bản ủy quyền ngày 05 tháng 12 năm 2023).

Người đại diện hợp pháp của bà bà Nguyễn Thị L cụ Nguyễn Xuân Đ, (Văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 12 năm 2023).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 14 tháng 12 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là cụ Nguyễn Xuân Đ trình bày:

Cụ Đ và cụ Nguyễn Thị G (Đã chết ngày 14 tháng 9 năm 2022) kết hôn từ những năm 1960; quá trình chung sống hai cụ sinh được 10 người con gồm: Ông Nguyễn Cao Đ1, ông Nguyễn Văn T4 (Chết năm 1988), ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn M.

Trong những người con của hai cụ thì có ông Nguyễn Văn M, kể từ khi sinh ra cho đến nay đều sinh sống cư trú cùng ông tại thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; ông M chưa có vợ, con. Đầu năm 2020, ông Nguyễn Văn M nói với gia đình đi làm ăn xa, thời gian đầu ông M có liên lạc với gia đình, nhưng sau đó từ tháng 5 năm 2020 đến nay, ômg M không liên lạc với gia đình, gia đình cũng không ai liên lạc được với ông M nữa. Cụ và các anh chị em của gia đình ông M đã đi tìm nhiều nơi, hỏi nhiều chỗ xong cũng không ai biết ông M làm ăn hay cư trú ở đâu, ông M đi khỏi địa phương và không đăng ký tạm vắng tại địa phương, cũng không đăng ký tạm trú ở đâu. Ngay cả khi cụ G (Mẹ ông M) chết, gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm ông M nhưng không rõ tung tích. Hiện ông M đi đâu, làm gì, sinh sống ở đâu không ai biết. Tính đến nay ông M đã mất tích được quá 3 năm, không có tin tức xác thực còn sống hay đã chết nên cụ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là mất tích theo quy định của pháp luật; để giải quyết phân chia tài sản, phân định tài sản trong gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Cao Đ1, ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị L đều vắng mặt tại phiên họp nhưng đã ủy quyền cho cụ Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt và ông Nguyễn Văn P có mặt tại phiên họp, quá trình giải quyết việc, các ông bà đều trình bày:

Các ông bà là con của cụ Đ và cụ G; các ông bà đều xác nhận những nội dung ông Đ trình bày là đúng; ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984 là em út trong gia đình đã bỏ nhà ra đi từ năm 2020 đến nay, không có tin tức xác thực gì là còn sống hay đã chết; gia đình đã đi tìm ông M ở nhiều nơi xong không có kết quả; nay cụ Đ, là bố của ông M đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố ông M mất tích, các ông bà nhất trí với yêu cầu của cụ Đ, đề nghị tuyên bố ông Nguyễn Văn M mất tích, theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp người yêu cầu là cụ Nguyễn Xuân Đ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Văn M mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên trình bày phát biểu quan điểm về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết việc của Thẩm phán, Thư ký Tòa án từ khi thụ lý đến phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 149, Điều 389 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của cụ Nguyễn Xuân Đ; tuyên bố ông Nguyễn Văn M là mất tích; ngày mất tích của ông Nguyễn Văn M là ngày 01 tháng 01 năm 2023.

Về chi phí tố tụng và lệ phí giải quyết việc dân sự: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nhận định:

Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Người có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự; do các đương sự có đều có địa chỉ tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc nên thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đối với ông Nguyễn Văn M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị yêu cầu tuyên bố là mất tích; từ lúc thụ lý việc cho đến ngày mở phiên họp, đều không có tin tức gì; đối với bà H đã có đầy đủ ý kiến trong hồ sơ và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

. Xét yêu cầu của cụ Nguyễn Xuân Đ tuyên bố ông Nguyễn Văn M mất tích. Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thấy rằng: Ông Nguyễn Văn M là con của cụ Nguyễn Xuân Đ và cùng cư trú tại thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, do ông Nguyễn Văn M bỏ nhà ra đi khỏi địa phương không có tin tức, không liên lạc gì với chính quyền địa phương và gia đình, Tòa án cũng đã lấy lời khai của người thân trong gia đình ông M là cụ Đ, các anh chị em của ông M; xác minh tại chính quyền nơi ông M cư trú cuối cùng cũng không có tin tức xác thực hiện nay ông M ở đâu, làm gì, không có liên lạc gì với gia đình và địa phương. Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và trên cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc ba lần trong ba số báo và phát thanh liên tiếp theo quy định của pháp luật, xong đã quá thời hạn theo thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông M cư trú, sinh sống ở đâu, còn sống hay đã chết

Tính từ thời điểm cuối cùng là từ năm 2020, đến nay đã quá hai năm liền ông Nguyễn Văn M không có tin tức xác thực là còn sống hay mất tích, hiện đang làm gì, ở đâu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và căn cứ vào chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được, có đầy đủ căn cứ để khẳng định ông Nguyễn Văn M mất tích; vì vậy cần chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Xuân Đ; tuyên bố ông Nguyễn Văn M mất tích theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự thì:

“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.”

Tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là cụ Đ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Đ là bà Trần Thị Ngân và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P đều xác định, thời điểm biết tin tức cuối cùng của ông Nguyễn Văn M là khoảng cuối năm 2020, cụ Đ, ông P không nhớ ngày, tháng cụ thể; do đó căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự thì xác định ông Nguyễn Văn M mất tích từ ngày 01 tháng 01 năm 2023.

Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp nên được chấp nhận.

. Về chi phí nhắn tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ Nguyễn Xuân Đ xin tự nguyện chịu toàn bộ số tiền đã, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Cụ Nguyễn Xuân Đ là người cao tuổi nên không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68; Điều 69 của Bộ luật Dân sự; Điều 389 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Xuân Đ; Tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là mất tích.

2. Ngày mất tích của ông Nguyễn Văn M được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 2023.

3. Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Văn M được giải quyết như đối với người mất tích. Quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn M được giải quyết như đối với người mất tích; tài sản của ông Nguyễn Văn M được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho cụ Nguyễn Xuân Đ.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ