- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Nguyễn Minh T yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Bá Ng mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Minh T. Tuyên bố ông Nguyễn Bá Ng mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST-VDS | Buôn Hồ, ngày 07 tháng 2 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Kim Chung
Thư ký phiên họp: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 121/2022/TLST-VDS ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-VDS, ngày 27 tháng 01 năm 2023, gồm có những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987, có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1956.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, anh Nguyễn Minh T trình bày: Ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1956, nơi cư trú cuối cùng ở TDP 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk sống chung như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với bà Lê Thị Tr, sinh năm 1960 và có một người con là tôi (Nguyễn Minh T, sinh năm 1987 cùng trú tại TDP 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk). Đến năm 1990 ông Ng bỏ nhà đi, khi đi ông Ng không thông báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết. Tôi đã tìm cách liên lạc và tìm kiếm ông Ng nhiều nơi, đồng thời nhắn tin tìm kiếm trên đài tiếng nói Việt Nam 03 số liền nhưng vẫn không có tin tức gì và được chính quyền địa phương nơi ông Ng cư trú xác nhận. Vì vậy, ngày 22/6/2022 tôi làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã B, giải quyết yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Bá Ng mất tích.
Nay do điều kiện, hoàn cảnh của bản thân muốn tôi và mẹ tôi (Lê Thị Tr) được ổn định cuộc sống, nên tôi viết đơn này đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B giải quyết để tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Bá Ng theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết, người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án xem xét để tuyến bố mất tích đối với ông Nguyễn Bá Ng theo quy định pháp luật.
Tại phiên họp, chủ tọa phiên họp công bố tóm tắt nội dung vụ việc và công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên còn vi phạm khoản 1 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp đều tuân thủ quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Minh T, quyết định tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Bá Ng.
Về lệ phí và chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Minh T phải chịu lệ phí việc dân sự và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Toà án nhân dân thị xã B nhận định:
Ông Nguyễn Bá Ng và bà Lê Thị Tr chung sống với nhau như vợ chồng tại tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk từ năm 1986 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống ông Ng và bà Tr có với nhau 01 người con chung là anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987.
Từ năm 1990, ông Nguyễn Bá Ng đã vắng mặt và bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú là tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk đến nay không có tin tức. Việc bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú của ông Nguyễn Bá Ng đã được chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân phường A xác nhận cũng như đã được Toà án nhân dân thị xã B xác minh thì đã xác định là thời điểm ông Ng bỏ đi khỏi địa phương là năm 1990 đến nay không có tin tức.
Sau khi có đơn đề nghị của người yêu cầu, Toà án quyết định thông báo tìm kiếm ông Nguyễn Bá Ng và nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức đối với ông Nguyễn Bá Ng.
Tính đến thời điểm hiện nay ông Nguyễn Bá Ng đã biệt tích đã lâu, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo để nhắn tin, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc còn sống hay đã chết. Theo yêu cầu của anh Nguyễn Minh T về việc tuyên bố ông Nguyễn Bá Ng mất tích là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về lệ phí và chi phí nhắn tin: Anh Nguyễn Minh T phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và toàn bộ chi phí nhắn tin.
Về ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 371; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 9, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Minh T. Tuyên bố ông Nguyễn Bá Ng mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0018127 ngày 07/7/2022 tại chi cục thi hành án dân sự thị xã B và toàn bộ chi phí cho việc nhắn tin.
3. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND thị xã B; - UBND phường A; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Kim Chung |