- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2, khoản 16 Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST-VDS | Vị Thủy, ngày 15 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Hùng
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 100/2022/TLST-VDS, ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 48/2023/QĐST-VDS, ngày 02 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Tiến P, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện T, tỉnh H (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị Cẩm D, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1991; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện T, tỉnh H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 02/10/2022, người yêu cầu là ông Trần Tiến P trình bày: Con trai ông P là Trần Bá P có vợ là Đoàn Thị Cẩm D (con dâu ông P); hai vợ chồng P và D sinh được một người con là Trần Tiến V sinh ngày 07/01/2013 (cháu nội ông P). Đến ngày 31/01/2021 thì Trần Bá P chết (do bệnh), còn Đoàn Thị Cẩm D bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2019 cho đến nay. Ông P đã tìm mọi cách để tìm kiếm, yêu cầu Toà án nhắn tin, đăng báo nhưng không rõ tung tích chị D hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, ông P yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đoàn Thị Cẩm D là người mất tích, để làm thủ tục cho trẻ mồ côi đối với cháu Trần Tiến V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang nhận định:
[1] Việc áp dụng pháp luật về tố tụng: Do Đoàn Thị Cẩm D đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2019 cho đến nay. Theo xác nhận ngày 03/10/2022 của chính quyền địa phương (nơi cư trú cuối cùng) thì: “Đương sự Đoàn Thị Cẩm D, sn 1991, cư ngụ ấp B, xã V, huyện T, tỉnh H, vào năm 2019 bỏ địa phương đi cho đến nay, không có mặt tại địa phương là đúng sự thật”. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Chị Đoàn Thị Cẩm D đã bỏ địa phương đi từ năm 2019, nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
[3] Theo sổ hộ khẩu của ông Trần Tiến P (chủ hộ) ghi nhận: Chị Đoàn Thị Cẩm D, sinh ngày 02/6/1991, con dâu chủ hộ. Cháu Trần Tiến V là con anh P với chị D, cũng là cháu nội ông Trần Tiến P. Do anh Pđã chết, cháu V còn nhỏ. Căn cứ khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông P là có căn cứ.
[4] Thời gian chị D bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2019 - 2023 là 04 năm. Về phía người yêu cầu, ông Trần Tiến P đã yêu cầu Tòa án nhắn tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Cơ quan thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh phát sóng vào lúc 17 giờ 30 đến 18 giờ, trong các ngày: 01, 02 và 03/11/2022; và nhắn tin trên Báo Công lý, trên ba số báo liên tiếp: 86, 87 và 88, ra các ngày 28/10 và ngày 01, 04/11/2022, nhắn tìm chị Đoàn Thị Cẩm D; tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng báo và phát sóng thông báo lần đầu tiên nhưng không có tin tức gì về chị D. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc ông P: Yêu cầu Toà án tuyên bố chị Đoàn Thị Cẩm D là người mất tích, là có căn cứ.
[5] Về lệ phí: Do ông Trần Tiến P là người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì, ông P phải nộp lệ phí số tiền 300.000đ. Ông P đã nộp tạm ứng chi phí nhắn tin (trên báo, đài) là 4.000.000đ, đã chi hết tổng cộng số tiền là 3.000.000đ, còn lại 1.000.000đ được giao trả lại cho ông P (đã giao nhận xong), nên không xử lý. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết yêu cầu của đương sự là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Các Điều 5 và 6, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 5 Điều 68, khoản 1 Điều 91 và các Điều 93, 149, 150, 361, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2, khoản 16 Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Tiến P về việc: Yêu cầu tuyên bố chị Đoàn Thị Cẩm D, sinh ngày 02/6/1991; địa chỉ cuối cùng ấp B, xã V, huyện T, tỉnh H là người mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Trần Tiến P phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển 300.000đ tạm ứng lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0003007, ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành lệ phí sơ thẩm.
- Lệ phí nhắn tin trên Báo Công lý số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng), Lệ phí nhắn tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng), tổng cộng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), ông P đã nộp xong, không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS h.Vị Thủy; - Các đương sự; - Cổng TTĐT (Để công bố); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự; | Phạm Văn Hùng |