vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích T về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích.

Tuyên bố anh Lư Vũ L, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Cạn N, xã Thạnh Y, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên Gi. Ngày mất tích được xác định là ngày 20/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Thị Bích Trâm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích T về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH THƯỢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
-----
Số: 01/2023/QĐST-VDS
U Minh thượng, ngày 18 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Danh Hoàng

Thư ký phiên họp: Bà Thị Thúy Kiều

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên họp: Ông Trần Ngọc Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST-VDS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-VDS ngày 30 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: Số 381/19, đường Mạc Cửu, khu phố Mạc C, phường Vĩnh T, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Gi.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 27/7/2022 và các lời khai tại Tòa án người yêu cầu chị Trần Thị Bích T trình bày:

Vợ chồng chị Trần Thị Bích T và anh Lư Vũ L (sau đây gọi tắt là chị T, anh L) chung sống với nhau từ năm 2015. Thời gian chung sống vợ chồng chị T, anh L thường xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, luôn bất đồng ý kiến. Nguyên nhân là do anh L không lo làm ăn để chăm sóc cho vợ và con. Từ ngày 19/9/2019 anh L đi bỏ địa phương biệt tích đến nay không tin tức. Mặt dù, chị T và gia đình nhiều lần cố gắng đi tìm anh L ở nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức anh L. Chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh L là đã mất tích, để chị làm thủ tục xin ly hôn với anh L.

Trong quá trình giải quyết chị T đã đăng báo nhắn tin tìm kiếm anh L trên các báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp gồm số: 89 ngày 08/11/2022; số 90 ngày 11/11/2022; số 91 ngày 15/11/2022 trên báo Công lý và nhắn tin trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 14,15,16/11/2022 nhưng vẫn không có tung tích của anh L.

Tại phiên họp chị T vẫn giữ nguyên theo đơn yêu cầu và xác định định anh L mất tích ngày cuối cùng chị liên lạc được với anh L là ngày 19/9/2019, từ đó đến nay không liên lạc được. Mục đích chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh L mất tích là để chị làm thủ tục xin ly hôn với anh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T, tuyên bố một người là đã mất tích đối với anh L. Anh L mất tích kể từ ngày 20/9/2021.

Về lệ phí việc dân sự: Chị T phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, nhận định:

. Về nội dung yêu cầu: Chị Trần Thị Bích T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã mất tích đối với anh Lư Vũ L, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Cạn Ngọn, xã Thạnh Yên, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

. Xét nội dung yêu cầu của chị T: Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng phát biểu ý kiến: Đề nghị Toà án xem xét, chấp nhận theo đơn yêu cầu của chị T, tuyên bố một người là đã mất tích đối với anh Lư Vũ L, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Cạn N, xã Thạnh Y, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên Gi, anh L mất tích kể từ ngày 20/9/2021.

Theo xác nhận ngày 27/7/2022 của Công an xã Thạnh Y, huyện U Minh Th, Kiên Gi thì anh L mất tích thời gian 03 đến 04 năm, kể từ tháng 6/2021 và biên bản xác minh ngày 14/02/2023 của ông Trần Văn Hồng là Công an Ấp Cạn Ng cũng xác nhận anh L biệt tích khỏi địa phương khoảng giữa năm 2020 đến nay không tin tức, không về địa phương. Tuy nhiên, chị T xác định chị liên lạc được với anh L cuối cùng là ngày 19/9/2019, nhưng từ đó đến nay chị T đã sử dụng nhiều biện pháp để tìm kiếm nhưng vẫn không tìm được anh L. Chị T đã đăng báo nhắn tin tìm kiếm anh L trên các báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp gồm: Số 89 ngày 08/11/2022; số 90 ngày 11/11/2022; số 91 ngày 15/11/2022 trên báo Công lý và nhắn tin trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 14,15,16/11/2022 nhưng vẫn không có tung tích của anh L. Do đó, việc chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã mât tích đối với anh Lư Vũ L là có cơ sở chấp nhận.

Về xác nhận ngày mất tích của anh Lư Vũ L: Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định:

…………..

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó .…

Như vậy, ngày biết được tin tức cuối cùng anh L đi bỏ địa phương là ngày 19/9/2019 đến ngày 19/9/2021 là 02 năm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự, Tòa án xác định anh L mất tích vào ngày 20/9/2021.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Bích T phải nộp lệ phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003368, ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Th, tỉnh Kiên Gi.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, khoản 2 Điều 367 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích T về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích.

2. Tuyên bố anh Lư Vũ L, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Cạn N, xã Thạnh Y, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên Gi.

Ngày mất tích được xác định là ngày 20/9/2021.

3. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố anh Lư Vũ L là đã mất tích:

3.1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã mất tích có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3.2. Quản lý tài sản của người bị Tòa án tuyên bố mất tích. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với người mất tích thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

3.3. Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

Trường hợp chị T đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

4. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Bích T phải nộp lệ phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003368, ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Th, tỉnh Kiên Gi. Chị T đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

5.1. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. Trường hợp người yêu cầu không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

5.2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ