vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 24/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Thạch Thị Mỹ H.

Tuyên bố: Ông Thạch Văn H, sinh năm 1975. Nơi cư trú cuối cùng: ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thạch Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí do bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với ông Thạch H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Thạch Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-VDSTrà Cú, ngày 24 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Tấn, Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Thư ký phiên họp: Bà Tiết Thị Long, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên họp: Ông Trầm Văn Mừng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 119/2022/TLST-VDS ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 03/2023/QĐST-VDS ngày 16 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Thạch Thị Mỹ H, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp XTh, xã NX, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin mở phiên họp vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Thạch Văn H, sinh năm 1975. Nơi cư trú cuối cùng: ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai bà Thạch Thị Mỹ H trình bày:

Nguyên vào năm 1996, bà được gia đình cho phép kết hôn với ông Thạch Văn H, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã NX, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống có 01 con chung tên Thạch Vân Ph, sinh năm 1996. Sau nhiều lần phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc làm ăn, sự việc kéo dài đến cuối năm 1996, ông H bỏ nhà đi nơi khác làm ăn, sinh sống từ đó cho đến nay không về địa phương, không có liên lạc với bà và người thân, bà đã nhiều lần đi tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không biết ông H hiện giờ đang làm gì và ở đâu. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Cú giải quyết tuyên bố ông Thạch Văn H, sinh năm 1975. Nơi cư trú cuối cùng: ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh mất tích để bổ sung hồ sơ ly hôn.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy đi h của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của bà Thạch Thị Mỹ H, qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự. Đề nghị, căn cứ các Điều 27, 35, 39, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Thạch Thị Mỹ H, tuyên bố ông Thạch Văn H mất tích. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nhận định:

Về tố tụng: Trong vụ việc này người yêu cầu là bà Thạch Thị Mỹ H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thạch Văn H, là chồng của bà H. Vì vậy, bà H có quyền yêu cầu tuyên bố ông Thạch Văn H mất tích là đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng của ông Thạch Văn H tại ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Nên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc vắng mặt của người yêu cầu nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành phiên họp vắng mặt chị H.

Về nội dung: Chị Thạch Thị Mỹ H là vợ của ông Thạch Văn H. Anh H đã bỏ nhà đi từ năm 1996 đến nay, gia đình không có tin tức gì. Bà H và gia đình đã áp dụng các biện pháp để thông báo, tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông H. Công an xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh cũng xác định ông Thạch Văn H vắng mặt tại địa phương, không thường trú tại ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh từ năm 1996 đến nay. Kết quả xác minh xác minh ngày 10/02/2023 bà Kiên Thị H là mẹ ruột của Thạch Văn H cho biết năm 1996 con của bà là Thạch Văn H kết hôn với bà Thạch Thị Mỹ H và đã bỏ địa phương đi từ năm 1996 cho đến nay không có tin tức gì và cũng không có liên lạc về nhà.

Sau khi thụ lý hồ sơ vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Trà Cú đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với ông H tại địa phương và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Thạch Văn H. Thông báo này được đăng trên Báo Công Lý (thuộc Công ty cổ phần thông tin tuyền thông Công lý) ba lần trong ba số báo liên tiếp 82, 83, 84 vào các ngày 14, 18, 21/10/2022; nhắn tìm trên trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV AMS) được phát vào hồi 17 giờ 30 phút, ba lần trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 27, 28, 29/10/2022 và đăng trên Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Tòa án tối cao ngày 12/10/2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng nhắn tin, thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, nhưng ông Thạch Văn H vẫn không trở về địa phương và gia đình, không có mặt tại Tòa án theo thông báo nhắn tin để giải quyết, không có tin tức gì của ông Thạch Văn H. Do đó có cơ sở để khẳng định ông H có thời gian biệt tích 02 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực về việc ông H còn sống hay đã chết. Xét đơn yêu cầu của bà Thạch Thị Mỹ H về yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với ông Thạch Văn H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ việc là có căn cứ.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Thạch Thị Mỹ H phải nộp lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; các Điều 369, 370, 371, 372, 385, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Thạch Thị Mỹ H.

Tuyên bố: Ông Thạch Văn H, sinh năm 1975. Nơi cư trú cuối cùng: ấp MA, xã LNA, huyện TC, tỉnh Trà Vinh mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thạch Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí do bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012625 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích 3.100.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/10/2022 và ngày 24/10/2022 bà Thạch Thị Mỹ H tự nguyện chịu và đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ