vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 20/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Cũng Quang T.

Tuyên bố bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, có địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ mất tích kể từ ngày 01/01/1972. Khi bà Lâm Thị D trở về hoặc khi có tin tức xác thực là bà Lâm Thị D còn sống thì bà Lâm Thị D hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Cũng Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐVDS.STThới Lai, ngày 20 tháng 4 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Nguyễn Minh Trí – Thẩm phán.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Ông Bùi Văn Lư – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 16/2022/TLST-VDS ngày 28 tháng 11 năm 2022 về “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 187/2023/QĐPH-VDS ngày 10 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Cũng Quang T, sinh năm 1967

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cũng Quang T, sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Người bị yêu cầu: Bà Lâm Thị D, sinh năm 1941

Nơi cư trú cuối cùng: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 21/02/2022, quá trình giải quyết, ông Cũng Quang Thống trình bày và yêu cầu:

Ông là con của bà Lâm Thị D và ông Cũng Quang C. Năm 1971 bà Lâm Thị D do đau buồn nên bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức. Gia đình và người thân không liên lạc được, không có tin tức của bà D. Nay ông yêu cầu tuyên bố bà Lâm Thị D mất tích từ năm 1971.

Tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của ông Cũng Quang Thống giữ nguyên yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai phát biểu ý kiến tại phiên họp:

+ Vệc tuân theo pháp luật: Từ khi Toà án thụ lý vụ việc đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả thẩm tra tại phiên họp; căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 370, Điều 388, Điều 389 và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự có căn cứ xác định bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, có địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ mất tích kể từ ngày 01/01/1971. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Cũng Quang Thống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật: Ông Cũng Quang Thống là con của bà Lâm Thị D yêu cầu tuyên bố bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, có địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ là mất tích. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông Cũng Quang Thống là con của bà Lâm Thị D. Bà Lâm Thị D bỏ nhà đi từ năm 1971 đến nay không về địa phương. Gia đình và người thân không có tin tức, không liên lạc được với bà Lâm Thị D.

Theo xác nhận của Công an xã T, huyện Thới Lai trong đơn xin xác nhận nơi cư trú cuối cùng (bút lục 08) có nội dung: “bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, có sinh sống ở địa phương đến năm 1971. Từ thời điểm năm 1971 cho đến nay, bà D không sinh sống ở địa phương, không rõ đi đâu và làm gì”.

Tòa án nhân dân huyện Thới Lai ban hành quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đã đăng phát thông tin tìm kiếm bà Lâm Thị D trên 03 (ba) số báo liên tiếp 98, 99 và 100 ra các ngày 09, 13 và 16/12/2022 của Báo Công Lý và phát sóng phát thanh trên sóng AM tần số 657KHz Đài Tiếng nói Việt Nam trong 03 (ba) ngày 22, 23 và 24/12/2022 nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Lâm Thị D còn sống hay đã chết.

Như vậy có căn cứ xác định bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã biệt tích từ trên 02 năm (kể từ năm 1971) mà không biết bà D đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Do không xác định được ngày, tháng có tin cuối cùng của bà Lâm Thị D nên thời hạn được tính để xác định ngày biết tin tức cuối cùng của bà Lâm Thị D là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng, tức ngày 01/01/1972.

Vì vậy yêu cầu của ông Cũng Quang T là có căn cứ để chấp nhận. Cần tuyên bố bà Lâm Thị D mất tích kể từ ngày 01/01/1972 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Cũng Quang T phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng) pdo ông Cũng Quang T chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T đã nộp và chi xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 370; Điều 371; Điều 372; khoản 2 Điều 385; Điều 389 và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 và khoản 3 Điều 68; Khoản 1 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015;

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Cũng Quang T.

Tuyên bố bà Lâm Thị D, sinh năm 1941, có địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ mất tích kể từ ngày 01/01/1972.

Khi bà Lâm Thị D trở về hoặc khi có tin tức xác thực là bà Lâm Thị D còn sống thì bà Lâm Thị D hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích đối với bà Lâm Thị D.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Cũng Quang T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Chuyển tiền tạm ứng lệ phí ông Cũng Quang T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 005853 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành lệ phí nên ông Cũng Quang T không phải nộp thêm.

3. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) do ông Cũng Quang T chịu. Ông Cũng Quang T đã nộp và chi xong.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ