vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị X mất tích. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng lệ phí số AA/2021/0020850 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố một người mất tích Nguyễn Thị Xuân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-VDSKrông Búk, ngày 26 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Anh Thái.

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên họp: Ông Y Đum Kpă - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2022/TLST-VDS ngày 07 tháng 12 năm 2022, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2023/QĐST-VDS ngày 17 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1979.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 28/10/2022 và tại phiên họp anh Nguyễn Hữu T trình bày:

Anh T và chị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30/9/1997. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T và chị X không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xung đột, cãi vã. Sau khi xảy ra mâu thuẫn thì chị X đã bỏ đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Mặc dù anh T đã liên hệ tìm kiếm nhiều nơi, qua hai bên gia đình nội ngoại và bạn bè nhưng không tìm được và không có tin tức gì về chị X, không biết hiện nay chị X đang làm gì, ở đâu. Vì vậy, anh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Búk giải quyết tuyên bố chị X mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành xác minh, ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu của anh T là có cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh T, tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Nơi cư trú cuối cùng của chị Nguyễn Thị X là tại thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên anh Nguyễn Hữu T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị X mất tích là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu giải quyết tuyên bố một người mất tích: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị X đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2017 cho đến nay không có tin tức. anh T và gia đình đã tìm kiếm và hỏi thăm tin tức của chị X ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, đến nay vẫn không có tin tức xác thực và không xác định được hiện nay chị X đang làm gì, ở đâu nên việc anh T yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị X là có căn cứ.

Xét đơn yêu cầu của anh Nguyễn Hữu T là đúng quy định tại điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự, căn cứ kết quả xác minh tại nơi cư trú và chính quyền địa phương, tài liệu, chứng cứ do anh T cung cấp đã xác định: Chị Nguyễn Thị X có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Chị X đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2017 đến nay không có tin tức gì, khi đi không khai báo tạm vắng hay thông báo nên chính quyền địa phương cũng không biết hiện nay chị X làm gì, ở đâu. Để có cơ sở giải quyết việc dân sự, Tòa án đã thực hiện việc đăng tin, nhắn tin tìm kiếm chị X trên Báo công lý trong ba số liên tiếp vào các ngày 23, ngày 27 và ngày 30 tháng 12 năm 2022, đăng phát tin trong 03 ngày liên tiếp trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 14, 15 và ngày 16 tháng 12 năm 2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, nhắn tin tìm kiếm lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì về chị X. Vì vậy, việc anh T yêu cầu tuyên bố chị X mất tích là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu và đã nộp đủ.

Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Nguyễn Hữu T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là đúng quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 149; Điều 370; Điều 372; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu T.

- Tuyên bố chị Nguyễn Thị X mất tích.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng lệ phí số AA/2021/0020850 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn là 10 kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ