- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ yêu cầu tuyên bố mất tích của anh Lê Văn T đối với chị Trần Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST-VDS | Hưng Hà, ngày 01 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Bích Thủy.
- Thư ký phiên họp: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2022/TLST- DS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn T1, xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn T1, xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu ngày 22-6-2022, tại các bản tự khai, anh Lê Văn T trình bày: Anh và chị Trần Thị H, là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 04-01-1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận và đã có một con chung là Lê Văn T3, sinh năm 1993. Đến năm 1997, chị H bị mắc bệnh T thần, mất trí nhớ và thường xuyên đi lang thang ngoài đường, anh và gia đình đi chữa trị ở nhiều bệnh viện nhưng bệnh tình của chị H vẫn không thuyên giảm. Đến ngày 15-8-2004, chị Trần Thị H bỏ đi khỏi địa phương. Từ khi chị H bỏ đi, gia đình anh đã tìm kiếm rất nhiều nơi nhưng vẫn không rõ tung tích của chị H, chị H cũng không liên lạc gì với gia đình. Đến nay đã gần 20 năm kể từ khi chị H bỏ đi, anh không nhận được bất cứ tin tức gì của chị H. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tuyên bố chị Trần Thị H mất tích.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
Tòa án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 367; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 để ra Quyết định giải quyết việc dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của anh T, tuyên bố chị Trần Thị H mất tích.
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án: Anh T phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nhận định:
1. Về tố tụng: Anh Lê Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Trần Thị H, chị H có nơi cư trú cuối cùng tại thôn T1, xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nên đơn yêu cầu của anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Văn T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt anh T.
2. Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích:
Ngày 28-9-2022, anh Lê Văn T nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị H, anh T xác định chị H đã đi biệt tích khỏi gia đình từ ngày 15-8-2004 đến nay, không có tin tức gì và cũng không liên lạc gì với gia đình, đồng thời anh T xuất trình chứng cứ là xác nhận của đại diện chính quyền thôn T1, xã T2 và UBND xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nơi cư trú, quê quán của chị H xác nhận việc trên.
Tại biên bản xác minh với chính quyền thôn T1, xã T2 và UBND xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thể hiện: Chị Trần Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn T1, xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2004 đến nay không về địa phương, không ai có tin tức gì về chị H. Ngoài ra ông Trần Văn Trường là anh trai của chị H, cháu Lê Văn T3 là con chung của anh T và chị H đều xác nhận chị H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2004 đến nay không có tin tức gì.
Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích và Thông báo tìm kiếm chị Trần Thị H trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đăng trên Báo Công lý 03 kỳ liên tiếp số: 81 (2039) ngày 12-10-2022, số 82 (2040) ngày 14-10-2022 và số 83 (2041) ngày 19-10-2022; Phát trên Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thanh đa phương tiện Đài tiếng nói Việt Nam thời gian vào 17 giờ 30 phút các ngày 15, 16 và ngày 17 tháng 10 năm 2022. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên, nhưng đến nay vẫn không có tin tức, thông tin nào xác định chị Trần Thị H còn sống hay đã chết.
Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Từ những phân tích trên cho thấy từ ngày 15-8-2004 đến nay, chị Trần Thị H đi biệt tích và không có bất cứ thông tin nào xác thực việc chị H đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T, tuyên bố chị Trần Thị H mất tích là phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Đối với chi phí cho việc đăng, phát thông tin tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích do người yêu cầu chịu và đã thực hiện xong.
Về quyền kháng cáo: người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn T;
Tuyên bố chị Trần Thị H, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn T1, xã T2, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự anh T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0005801 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Anh T đã nộp đủ tiền lệ phí việc dân sự.
3. Người yêu cầu, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định 01-3-2023.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Tòa án ND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - UBND xã T2; - Lưu hồ sơ; - Lưu HCTP. | (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |