vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 24/11/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị L.

Tuyên bố: Hủy Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn về việc tuyên bố mất tích đối với chị Lê Thị L, sinh năm 1986, hiện nay trú tại: Bản R, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lê Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-VDSChợ Mới, ngày 24 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lường Thị Thu Hòa;

Thư ký phiên họp: Ông Bảo Thanh Toàn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên họp: Bà Âu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2023/TLST-VDS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc "Hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-VDS ngày 10 tháng 11 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt);

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Hữu C; sinh năm 1983;

Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai người yêu cầu - chị Lê Thị L trình bày như sau:

Năm 2005 chị Lê Thị L kết hôn với anh Triệu Hữu C, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống ở thôn Bản Rịa, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2005 đến năm 2013. Đến khoảng tháng 01 năm 2014 do vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nên chị L đã bỏ nhà đi và không liên lạc với gia đình. Đến đầu tháng 10/2023, chị Lê Thị L đã trở về làm ăn và sinh sống ổn định tại địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Chị L nắm được việc Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã tuyên bố chị mất tích theo Quyết định số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã ra Bản án hôn nhân và gia đình số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 quyết định cho anh Triệu Hữu C ly hôn với chị Lê Thị L.

Do đó, chị L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới hủy Quyết định tuyên bố một người mất tích số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 đối với chị để chị được phục hồi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

* Tại phiên họp giải quyết việc dân sự:

- Chị Lê Thị L giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới hủy bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 về việc tuyên bố một người mất tích.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới có ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán, Thư ký tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 73 Bố luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 2 Điều 39; Các điều 146, 149, 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1, khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị L, tuyên bố hủy bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tuyên bố chị Lê Thị L mất tích.

Tại quyết định tuyên bố mất tích nêu trên không đề cập tới việc quản lý tài sản nên đề nghị không xem xét giải quyết hậu quả liên quan đến tài sản. Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giải quyết ly hôn, chia tài sản chung giữa anh Triệu Hữu C và chị Lê Thị L vẫn có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ pháp luật được xác định là: "Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích".

Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 và điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019, về việc tuyên bố mất tích đối với chị Lê Thị L. Vì vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị Lê Thị L là phù hợp với quy định pháp luật tại điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng:

Tại phiên họp vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Triệu Hữu C, tuy nhiên anh C đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc đồng thời có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Do đó Thẩm phán chủ tọa phiên họp căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định tiếp tục phiên họp.

Về yêu cầu của đương sự:

Ngày 21/10/2019 Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã ra Quyết định số 02/2019/QĐST - VDS tuyên bố mất tích đối với chị Lê Thị L, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Đến nay, theo lời khai của chị Lê Thị L, anh Triệu Hữu C (chồng cũ của chị L), Biên bản xác minh tại Công an xã Y, huyện C, Biên bản làm việc với Trưởng thôn Bản Rịa, xã Y đều thể hiện xác nhận việc chị Lê Thị L đã trở về địa phương làm ăn và sinh sống ổn định tại thôn Bản Rịa, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Từ các căn cứ nêu trên khẳng định: Chị Lê Thị L là người bị tuyên bố mất tích tại Quyết định số 02/2019/QĐST - VDS của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nay đã trở về. Do đó, việc đề nghị hủy Quyết định tuyên bố một người mất tích số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới của chị Lê Thị L là có cơ sở để chấp nhận.

Về hậu quả pháp lý:

- Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giải quyết về ly hôn, nuôi con chung giữa anh Triệu Hữu C và chị Lê Thị L vẫn có hiệu lực pháp luật.

- Về tài sản: Tại Quyết định tuyên bố một người mất tích số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xác định anh C, chị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản, nên Tòa án không xem xét giải quyết hậu quả liên quan đến tài sản.

Về lệ phí: Chị Lê Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39; ; Các Điều 146, 149, 367, 370, 371, 372, 390 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị L.

Tuyên bố: Hủy Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn về việc tuyên bố mất tích đối với chị Lê Thị L, sinh năm 1986, hiện nay trú tại: Bản R, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giải quyết ly hôn, nuôi con chung giữa anh Triệu Hữu C và chị Lê Thị L vẫn có hiệu lực pháp luật.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị L phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng chị Lê Thị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng lệ phí số 0000060, ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Chị Lê Thị L đã nộp đủ lệ phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ