vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 11/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Hà Thị Q.

Xác định anh Z (sinh năm 1993, quốc tịch: Trung Hoa (Trung Quốc), Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, thị trấn K, thành phố C, châu tự trị Ch, tỉnh V, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Địa chỉ tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La) là cha của cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Hà Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 128 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-HNGĐSơn La, ngày 11 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Mai Lan.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên họp: Ông Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hà Thị Q, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Z, sinh năm 1993, quốc tịch: Trung Hoa (Trung Quốc). Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, thị trấn K, thành phố C, châu tự trị Ch, tỉnh V, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Địa chỉ tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

+ Anh Lường Văn Q1 (tên gọi khác: Lường Trọng Q1), sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản A, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La. Có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Vì Minh H. Địa chỉ: Tổ 11, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Hà Thị Q yêu cầu giải quyết như sau:

Tháng 09/2008 chị Hà Thị Q đăng ký kết hôn với anh Lường Văn Q1 (tên gọi khác: Lường Trọng Q1), sinh năm 1986, địa chỉ: Bản A, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La nhưng do anh Q1 và chị Q đã ly thân 11 năm nên ngày 07/02/2023 anh Q1 và chị Q đã được Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 60/2023/QĐST-HNGĐ.

Đến năm 2022, chị Q có quan hệ tình cảm với anh Z (sinh năm 1993, quốc tịch: Trung Quốc, Nơi đăng ký thường trú: Thôn Xung Khẩu, thị trấn Kê Nhai, thành phố Cá Cựu, châu tự trị Cáp Nê, Di Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Địa chỉ tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La). Chị Hà Thị Q và anh Z đã đăng ký kết hôn vào ngày 05/6/2023 tại Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Hai người có với nhau một con chung là cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022 tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La). Anh Z xác nhận cháu ZENG ZENAN là con của anh. Tuy nhiên do cháu ZENG ZENAN thành thai trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Q và anh Lường Văn Q1 nên theo quy định của pháp luật chị Q phải làm thủ tục xác định cha cho con tại Toà án có thẩm quyền tại Việt Nam để làm cơ sở đăng ký giấy khai sinh cho con. Do đó, chị Hà Thị Q đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xác định anh Z là cha của cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Z trình bày: Anh Z, sinh ngày 05/4/1993, quốc tịch: Trung Quốc, Nơi đăng ký thường trú: Thôn Xung Khẩu, thị trấn Kê Nhai, thành phố Cá Cựu, châu tự trị dân tộc Cáp Nê, Di Hồng Hà Tỉnh, tỉnh Vân Nam, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Địa chỉ tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La và chị Hà Thị Q có nảy sinh tình cảm với nhau vào năm 2022. Sau đó giữa anh chị đã có 01 con chung với nhau là cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022). Ngày 05/6/2023, anh Z và chị Hà Thị Q đã đăng ký kết hôn tại Trung Quốc. Đề nghị Toà án công nhận cháu ZENG ZENAN là con của anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lường Văn Q1 trình bày: Anh Lường Văn Q1 và chị Hà Thị Q kết hôn với nhau từ tháng 9/2008 tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Do có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên hai anh chị đã được Toà án nhân dân huyện Mộc Châu cho ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 60/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2023. Trong

2

thời kỳ hôn nhân anh Q1 và chị Q chỉ có 01 con chung duy nhất là cháu Lường Minh Quyết, sinh ngày 09/5/2009 hiện đang được anh Q1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Đối với cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022) thời gian đó anh Q1 và chị Q đang làm thủ tục ly hôn và đã sống ly thân với nhau rất lâu rồi, do đó Q nhất trí với yêu cầu xác định cha cho con của chị Hà Thị Q, đề nghị Toà án xác định anh Z là cha cháu ZENG ZENAN theo đề nghị của chị Q.

Tại phiên họp:

Chị Hà Thị Q giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xác định anh Z là cha của cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022). Anh Z nhất trí với yêu cầu của chị Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị Tòa án căn cứ khoản 10 Điều 29; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, khoản 2 Điều 128 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị Q về việc công nhận anh Z, sinh năm 1993, quốc tịch: Trung Quốc, Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, thị trấn K, thành phố C, châu tự trị Ch, tỉnh V, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa là cha của cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022 tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La); về lệ phí giải quyết việc dân sự, chị Q được miễn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La nhận định:

Về tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, chị Hà Thị Q cư trú tại Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; anh Z là người có quốc tịch Trung Quốc và đang cư trú tại Trung Quốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La theo quy định tại khoản 10 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lường Văn Q1 có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của chị Hà Thị Q: Cháu ZENG ZENAN sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Hà Thị Q và anh Lường Văn Q1. Tuy nhiên, chị Q và anh Q1 đều xác định cháu ZENG ZENAN không phải là con chung của anh chị. Bởi

3

lẽ anh Q1, chị Q từ lâu đã sống ly thân, cháu ZENG ZENAN sinh ra trong thời gian chị Q có quan hệ tình cảm với anh Z. Anh Z xác nhận cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022) là con chung của anh và chị Q. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xét nghiệm AND của Trung tâm xét nghiệm LOCI AND ngày 07/7/2023 thì anh Z và cháu ZENG ZENAN có cùng quan hệ huyết thống cha con. Do đó có đủ cơ sở xác định anh Z là cha ruột của cháu ZENG ZENAN.

Như vậy, yêu cầu của chị Hà Thị Q là có căn cứ, phù hợp với quan điểm giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, nên cần chấp nhận.

Về lệ phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chị Hà Thị Q được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89 và khoản 2 Điều 128 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Hà Thị Q.

Xác định anh Z (sinh năm 1993, quốc tịch: Trung Hoa (Trung Quốc), Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, thị trấn K, thành phố C, châu tự trị Ch, tỉnh V, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa. Địa chỉ tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La) là cha của cháu ZENG ZENAN (sinh ngày 13/12/2022 tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La).

2. Về lệ phí: Miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho chị Hà Thị Q. Chị Q được trả lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001977 ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

3. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày; đối với

4

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ