- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Từ chối nhận con"
- Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 01/2023/QĐST-DS Ngày: 16-01-2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu từ chối nhận con”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Thư ký phiên họp: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VHNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc “Từ chối nhận con” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Quốc H. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Hoài N. Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị M. Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu ngày 04/11/2022, bản tự khai và tại phiên họp, bên yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Phạm Quốc H trình bày:
Ông Phạm Quốc H và bà Nguyễn Thị M có quá trình tìm hiểu và kết hôn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20/7/1992. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, đến khi bà M có thai đứa con thứ hai (là anh Phạm Hoài Nam) thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Chị M có những biểu hiện không chung thủy. Ông H đi công tác ở xa và bà M ở nhà đã ngoại tình với người khác. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng sâu sắc, không hàn gắn được và ông H đã làm đơn ly hôn, Tòa án nhân huyện Quảng Trạch và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã xét xử vụ án và ban hành Bản án sơ thẩm số 61/DSST ngày 24/10/2002 và Bản án phúc thẩm số 30/PTLH ngày 25/12/2002. Tại phần Quyết định của Bản án thì cháu Phạm Hoài Nam là con chung của ông H và bà M và ông H thực hiện việc cấp dưỡng đối với anh N mỗi tháng 300.000 đồng. Ông H đã thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con cho anh N đến khi 18 tuổi (hiện anh Nam đã 23 tuổi). Đến ngày 12/6/2012 ông H đã lấy mẫu tóc của ông và anh Phạm Hoài N gửi đến Viện Pháp Y Quốc gia để tiến hành giám định ADN xác định huyết thống. Ngày 20/6/2012, Viện pháp y quốc gia đã ban hành bản kết luận giám định về huyết thống số 68/12/GĐPY-HT kết luận ông H và anh N không có quan hệ huyết thống. Sau đó ông H đã gửi bản Kết luận giám định cho bà M tuy nhiên gia đình bên ngoại và bà con hàng xóm cho rằng ông H là người cha tệ bạc, bỏ rơi con cái và sự việc đã ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và cuộc sống hàng ngày của ông H vì vậy ông H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xác nhận ông H và anh N không có quan hệ huyết thống cha con.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/12/2022, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hoài N trình bày:
Anh Phạm Hoài N là con ruột của bà Nguyễn Thị M. Bà M và ông H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau khi đăng ký kết hôn bà M và ông H về sống chung tại xã Liên Trường một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Bà M đã làm đơn ra Tòa án và Tòa án đã xét xử cho bà M và ông H ly hôn, về phần cấp dưỡng buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con cho anh N hàng tháng nhưng ông H không thực hiện nghĩa vụ đối với anh N.
Nay ông H làm đơn yêu cầu Từ chối nhận con thì anh N không có ý kiến gì, tùy ông H muốn làm gì thì làm. Bà M đi làm ăn xa nên không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Về phía anh N, vì lý do sức khoẻ nên có đơn xin Toà án giải quyết vắng mặt, xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Toà án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng, thông báo thụ lý việ dân sự, gửi giấy triệu tập, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự cho bà Nguyễn Thị M nhưng bà M không đến Tòa án để giải quyết. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã Liên Trường, kết quả cho thấy: sau khi nhận được các văn bản tố tụng từ Tòa án thì chính quyền địa phương đã cử cán bộ liên lạc giao đầy đủ cho bà M, tuy nhiên do Bà M đi làm ăn xa nên không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến: Căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367, 369, 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Giải quyết vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hoài N và bà Nguyễn Thị M.Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Quốc H về việc “Từ chối nhận con”. Xác định anh Phạm Hoài N; sinh năm 2000, trú tại thôn Hạ Trường, xã Liên Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình không phải là con ruột của ông Phạm Quốc H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch nhận định:
Về tố tụng: Xét đơn yêu cầu của ông Phạm Quốc H xác định đây là việc dân sự về việc: “Từ chối nhận con”. Người yêu cầu cư trú tại xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Toà án đã tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vào ngày 23/12/2022, do anh Phạm Hoài N và bà Nguyễn Thị M vắng mặt lần thứ nhất nên đã hoãn phiên toà. Tại phiên họp lần thứ hai anh Nam và bà M tiếp tục vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, mở phiên họp vắng mặt anh Phạm Hoài N và bà Nguyễn Thị M.
Về yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phạm Quốc H thấy rằng: Trước đây, ông Phạm Quốc H và bà Nguyễn Thị M là vợ chồng hợp pháp và đã sinh được hai con chung là Phạm Văn Điền, sinh tháng 4/1993 và Phạm Hoài N, sinh tháng 8/2000. Quá trình chung sống, ông bà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và Tòa án nhân huyện Quảng Trạch và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã xét xử vụ án và ban hành Bản án sơ thẩm số 61/DSST ngày 24/10/2002 và Bản án phúc thẩm số 30/PTLH ngày 25/12/2002. Ông Phạm Quốc H cho rằng bà Nguyễn Thị M đã ngoại tình và anh Phạm Hoài N không phải là con ruột của ông Huy nên ông đã lấy mẫu tóc của ông và anh Phạm Hoài N gửi đến Viện Pháp Y Quốc gia để tiến hành giám định ADN xác định huyết thống. Ngày 20/6/2012, Viện pháp y quốc gia đã ban hành bản kết luận giám định về huyết thống số 68/12/GĐPY-HT kết luận ông Phạm Quốc H và anh Phạm Hoài N không có quan hệ huyết thống cha con.
Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 88; khoản 2 Điều 89 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Quốc H về việc xác định anh Phạm Hoài N, sinh ngày 26/9/2000 theo Giấy khai sinh số 113/2000 của UBND xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (hiện nay là xã Liên Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) không phải là con ruột của ông Phạm Quốc H.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Phạm Quốc Huy được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 88; khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Giải quyết vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hoài N và bà Nguyễn Thị M.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Quốc H về việc “Từ chối nhận con”.
Xác định anh Phạm Hoài N, sinh ngày 26/9/2000 theo Giấy khai sinh số 113/2000 của Uỷ ban nhân dân xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (hiện nay là Uỷ ban nhân dân xã Liên Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) không phải là con ruột của ông Phạm Quốc H.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Quốc H được miễn lệ phí giải quyết vệc dân sự.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày mở phiên họp (ngày 16/01/2023). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày niêm yết quyết định tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Liên Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Quảng Trạch; - CCTHADS huyện Quảng Trạch; - UBND xã Liên Trường; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Nguyễn Thị Lan Phương |