vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 09/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vũ Hồng Q.

Tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986; nơi cư trú cuối cùng: xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mất tích. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Hồng Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố chị Lê Thị H mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vũ Hồng Q.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-DSYên Mô, ngày 09 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Minh

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên họp: Bà Giang Thị Quỳnh Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Hồng Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn H, xã Q, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. (Anh Vũ Hồng Q có mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, tại phiên họp, anh Vũ Hồng Q là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Anh và chị Lê Thị H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 09/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2009 chị H đã bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không liên lạc gì với anh và gia đình. Anh đã tìm kiếm thông tin chị H qua bạn bè, người thân hai bên nội ngoại, tìm kiếm rất nhiều nơi nhưng đến nay cũng không có tin tức gì của chị H. Thời gian chị H biệt tích đến nay đã được hơn hai năm, anh đã tìm kiếm và chờ đợi chị H trong khoảng thời gian dài nhưng đến nay chị H vẫn không trở về. Vì vậy anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986; nơi cư trú cuối cùng: xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết việc dân sự là đúng; việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Hồng Q tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986; nơi cư trú cuối cùng : xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mất tích; Anh Vũ Hồng Q phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm chị H theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nhận định:

Về thẩm quyền: Anh Vũ Hồng Q yêu cầu tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986 mất tích; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích của chị Lê Thị H: xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Về quyền yêu cầu: Anh Vũ Hồng Q và chị Lê Thị H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 09/8/2005 tại UBND xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nên quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Hồng Q và chị Lê Thị H là hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng Dân sự anh Vũ Hồng Q có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị H mất tích.

Về căn cứ yêu cầu: Tại Đơn xin xác nhận của anh Vũ Hồng Q ghi ngày 10/8/2022, Công an xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã xác nhận: chị Lê Thị H vắng mặt tại địa phương từ năm 2009 cho đến nay; Tại Biên bản xác minh ngày 20/10/2022, bà Phạm Thị T là mẹ đẻ chị H và anh Lê Sỹ T là anh trai chị H xác nhận: từ tháng 7/2009 chị H bỏ nhà đi, anh Q cùng gia đình đã tìm kiếm chị H ở nhiều nơi nhưng từ đó đến nay gia đình cũng không biết tin tức gì của chị H; tại biên bản xác minh ngày 20/10/2022, Ủy ban nhân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xác nhận: từ tháng 7/2009 đến nay chị H không sinh sống tại địa phương, anh Q và gia đình đã thông báo cho địa phương về sự vắng mặt của chị H và đã tìm kiếm chị H ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh nhưng đều không có tin tức gì của chị H; tại Biên bản xác minh ngày 21/10/2022, UBND xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp nơi chị H và anh Q sinh sống trước khi chị H bỏ về xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô xác nhận: từ khoảng tháng 3/2009 cho đến nay, chị H không sinh sống tại thôn Hang Nước, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, anh Q và gia đình anh Q đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị H.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04 và ngày 05 tháng 11 năm 2022; trên báo Công lý ba số liên tiếp 87, 88 và 89 ra các ngày 02, 04 và ngày 09 tháng 11 năm 2022 và trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Việc đăng tải thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Lê Thị H.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định chị Lê Thị H đã biệt tích từ năm 2009, anh Q và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm chị Lê Thị H theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Lê Thị H còn sống hay đã chết.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự cần chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Hồng Q về việc tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm:

Anh Vũ Hồng Q phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chi phí cho việc phát thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H trên Đài tiếng nói Việt Nam là 1.500.000 đồng và đăng tin trên báo Công lý là 1.500.000 đồng, tổng cộng là 3.000.000 đồng. Anh Vũ Hồng Q phải chịu toàn bộ chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 385, Điều 388 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 385, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vũ Hồng Q.

Tuyên bố chị Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1986; nơi cư trú cuối cùng: xóm Hàn Dưới, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mất tích.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Hồng Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh Vũ Hồng Q đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006377 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Anh Vũ Hồng Q đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

- Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm: Anh Vũ Hồng Q phải chịu số tiền chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Anh Vũ Hồng Q đã nộp đủ số tiền chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm.

- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Anh Vũ Hồng Q có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ