vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Sùng A S.

Tuyên bố: Bà Ly Thị L, sinh năm 1988, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Sùng A S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Sùng A S - Yêu cầu tuyên bố bà Ly Thị L mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Sùng A S.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST- DSTủa Chùa, ngày 23 tháng 03 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Tòng Thị Lan Thư ký phiên họp: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST - DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “ Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST- DS ngày 17 tháng 03 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Sùng A S - Sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ly Thị L – Sinh năm 1988; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trong đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Sùng A S trình bày: Bà Ly Thị L, sinh năm 1988 trú tại tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên là người liên quan trực tiếp đến tranh chấp đất nương với gia đình ông S, nhưng bà L đã vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 4/2015 cho đến nay không ai biết tin tức gì, nên ông S đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Ly Thị L trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn không có tin tức gì của bà Ly Thị L.

Đến nay đã hết thời hạn 02 năm theo thông báo số 01/2020/QĐ - TA ngày 03/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa thông báo "Tìm kiếm người vắng mặt tại cư trú" đối với bà Ly Thị L. Vì vậy, ông Sùng A S yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ly Thị L mất tích.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa tham gia phiên họp:

+ Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp thẩm phán, thư ký, người tham gia phiên họp đã tuân thủ các quy định tại Điều 367, 369 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dụng: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Sùng A S tuyên bố bà Ly Thị L mất tích theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

ông Sùng A S yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ly Thị L mất tích, nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên là yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng:

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm Yết thủ tục, thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp người yêu cầu ông Sùng A S vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. [3] Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Ly Thị L, sinh năm 1988 có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 4/2015 đến nay, ông S đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng đến nay không có tin tức gì về bà Ly Thị L và Thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích đối với bà Ly Thị L đã được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp 90,91,92/2022, trên cổng thông tin điện tử Tòa án tỉnh Điện Biên, cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, Đài tiếng nói Việt Nam theo quy định.

Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự mà vẫn không có tin tức gì về bà Ly Thị L. Sự việc đã được Công an thị trấn T, huyện C xác nhận bà Ly Thị L hiện nay không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ hiện đang làm gì, ở đâu. Do vậy, việc ông Sùng A S yêu cầu tuyên bố bà Ly Thị L mất tích là có cơ sở, do đó Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Sùng A S và ý kiến của kiểm sát viên về việc tuyên bố bà Ly Thị L mất tích theo quy định Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Người yêu cầu không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét. [5] Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã được ông Sùng A S trả chi phí đủ theo quy định khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự. [6] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Sùng A S phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm 300.000đồng theo quy định khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Sùng A S.

2. Tuyên bố: Bà Ly Thị L, sinh năm 1988, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên mất tích.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Sùng A S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008526 ngày 10/10/2022 của Thi cục Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa, ông Sùng A S đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ