- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LƯU THỊNH"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST- DS | TP Tuyên Quang, ngày 13 tháng 01 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Diệu Thương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc Tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan L, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm 6, xã Đ, thành phố t, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phan Th, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm 6, xã Đ, thành phố t, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ + Ông Phan D, sinh năm 1949; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Phan L2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm 5, xã Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Ông Phan Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Phan Th là anh trai ông Phan L, ông Th không có vợ con, hiện đang ở cùng ông L tại xóm 6, xã Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Hiện nay ông Th bị tâm thần phân liệt, thường nói linh tinh, cử chỉ, hành động không bình thường. Ông Th bị như vậy từ năm 1986, sau khi ông Th xuất ngũ ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang và về địa phương công tác tại Xí nghiệp giấy Hà Tuyên; trong quá trình công tác ông Th có biểu hiện tâm thần. Cơ quan đã cho ông Th đi giám định mất sức lao động, ông Th đã nghỉ chế độ mất sức lao động và được hưởng chế độ mất sức lao động từ năm 1990.
Tại địa phương, biểu hiện bệnh tâm thần của ông Th ngày càng nặng dần, gia đình đã cho ông Th đi khám và điều trị và có bệnh án xác nhận ông Th bị bệnh tâm thần phân liệt, hàng tháng ông Th được Trạm y tế xã Đ cấp thuốc tâm thần để uống nhưng bệnh không giảm. Gia đình ông Th đã cho ông Th đi giám định và đã có kết quả giám định sức khoẻ tâm thần kết luận ông Th có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Ông L xác nhận ông Th không nghiện ma tuý hay các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Nay đã có kết luận giám định sức khoẻ trên, gia đình ông đã họp và cử ông đứng ra làm thủ tục yêu cầu tuyên bố ông Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Toà án và nhất trí đề nghị Toà án chỉ định ông L là người giám hộ cho ông Th. Nay ông có đơn đề nghị Toà án tuyên bố ông Phan Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tại các bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày: Ông Phan Th không có vợ con, không có tài sản, hiện đang ở cùng ông Phan L là em trai. Hiện nay ông Th bị tâm thần phân liệt, thường nói linh tinh, không làm chủ được bản thân. Ông Th đã có kết quả giám định sức khoẻ tâm thần kết luận ông Th có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Ông Th không nghiện ma tuý hay các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Gia đình có 05 anh em, đã họp bằng văn bản và cử ông Phan Quang L đứng ra làm thủ tục yêu cầu tuyên bố ông Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Toà án và nhất trí đề nghị Toà án án chỉ định ông L là người giám hộ cho ông Th. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với yêu cầu của ông Phan Th về việc đề nghị Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Phan Th, sinh năm 1957, địa chỉ: Xóm 6, xã Đ, thành phố Tuyên Quang khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đơn yêu cầu của ông Phan L về việc tuyên bố ông Phan Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang.
Xét thấy đơn yêu cầu của ông L không có tranh chấp mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý. Vì vậy, căn cứ Điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là việc dân sự.
Về yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Th đã có sổ điều trị ngoại trú tâm thần phân liệt của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Sở Y tế Tuyên Quang. Đến ngày 21/12/2022, Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Miền núi phía Bắc đã có kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 49/2018/SKTT, kết luận: Phan Th bị bệnh tâm thần phân liệt - F20 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi- ICD10). Hiện tại Phan Th có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Ông Th không có vợ, con và hiện tại đang sống cùng em trai là ông Phan L. Ông Th không nghiện ma tuý hay các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Việc ông L có đơn yêu cầu tuyên bố ông Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đều được tất cả các anh chị em trong gia đình nhất trí, không có tranh chấp và đều nhất trí đề nghị Toà án chỉ định ông L là người giám hộ cho ông Th. Căn cứ các Điều 376, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23 của Bộ luật dân sự thì yêu cầu của ông Phan L về việc tuyên bố ông Phan Th khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông Phan L là người giám hộ cho ông Phan Th có đủ căn cứ để chấp nhận.
Về lệ phí của việc giải quyết: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Phan L phải chịu lệ phí là 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; các Điều 361; các Điều 370; 371; 372; 376 và 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phan L.
- Tuyên bố ông Phan Th, sinh năm 1957, địa chỉ: Xóm 6, xã Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Chỉ định ông Phan L, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm 6, xã Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là người giám hộ cho ông Phan Th.
Ông Phan L thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phan L phải chịu 300.000đồng lệ phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông L đã nộp là 300.000đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000560 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Ông L đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự (có mặt) có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TPTQuang; - Người yêu cầu; - Người có QLNVLQ; - Cơ quan THADS TPTQuang; - UBND xã Đ; - L Hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Thị Hương Giang |