- Tranh chấp gì? "Kiều văn Thành"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Kiều Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐ-TA | Ứng Hòa, ngày 10 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, TP. HÀ NỘI
Với T phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2023/QĐ-TA ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với:
Anh Kiều Văn T - sinh năm1999
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12
Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã P1, huyện Ư, T phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Tiền án: không, tiền sự: không.
Con ông: Kiều Văn T1 và bà Hoàng Thị V.
(có đơn xin vắng mặt tại phiên họp ).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động thương binh xã hội huyện Ứng Hòa, T phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Hạnh Vân – Trưởng phòng,
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Luyện – Cán bộ (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên họp: Ông Trịnh Minh Sỹ – kiểm sát viên (có mặt)
NHẬN THẤY:
Sau khi xem xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội các tài liệu có trong hồ sơ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Kiều Văn T thể hiện: Kiều Văn T là đối tượng lười lao động, nghiện ma túy từ năm 2021. Mặc dù T đã được gia đình, công an xã Phù Lưu, Đội hoạt động xã hội tình nguyện; các ban ngành, đoàn thể tại địa phương tuyên truyền, giáo dục tác hại của ma túy cũng như vận động T từ bỏ ma túy để trở T công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cho xã hội. Xong T vẫn thường xuyên lén lút sử dụng ma túy với hình thức là hít, nuốt và loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp (Ke, ngựa, kẹo), gây mất an ninh trật tự khu vực. Ngày 27/01/2023, T có biểu hiện sử dụng ma túy nên Công an xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa đã mời T đến trụ sở Công an xã tiến hành kiểm tra hành chính đối với T, cho T thử nước tiểu và có Kết luận của Trạm y tế xã Phù Lưu là: T dương tính với ma túy. Cùng ngày, UBND xã Phù Lưu đã có Thông báo về việc yêu cầu T : đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” nhưng ngày 30/01/2023 T có đơn không đăng ký và cũng chưa sử dụng thuốc Methadone để cai nghiện. Do vậy, nhận thấy T không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Ngày 30/01/2023, UBND xã và Công an xã Phù Lưu đã ban hành Quyết định tạm giao T cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, T phố Hà Nội.
Ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp trình bày: Kiều Văn T là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2021. Ngày 27/01/2023 T đã sử dụng ma túy; UBND xã Phù Lưu đã có Thông báo về việc yêu cầu T: “đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” nhưng ngày 30/01/2023 T có đơn không đăng ký và cũng chưa sử dụng thuốc Methadone để cai nghiện. T không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Bản thân T cũng thừa nhận có sử dụng ma túy và còn phụ thuộc vào chất ma tuý. Phòng Lao động Thương binh và xã hội đề nghị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 T phố Hà Nội để cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát: Việc xem xét, quyết định áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Kiều Văn T là cần thiết vì đối tượng T đã nghiện ma tuý từ nhiều năm nay, T không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 20 tháng đến 24 tháng.
Tại các tài liệu có trong hồ sơ, Kiều Văn T có trình bày: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2021, sử dụng ma túy loại ma túy tổng hợp (Ke, Kẹo, Ngựa) với hình thức hút, nuốt với tần suất 01lần/tuần. Nhất trí với việc các cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với mình.
XÉT THẤY:
Hồ sơ xem xét đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc đều đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, căn cứ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ đề nghị và người bị đề nghị.
Trong quá trình xem xét, Tòa đã tiến hành triệu tập anh T đến Tòa để tham ga phiên họp xong anh T có đơn xin vắng mặt căn cứ vào Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa vẫn tiến hành mở phiên họp.
Về tính chất hành vi vi phạm của người bị đề nghị là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người là nguyên nhân làm lây lan, phát triển căn bệnh thế ký HIV- AIDS, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm trật tự, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2021, bản thân T cũng tự nhận vẫn còn sử dụng ma túy tổng hợp với hình thức nuốt, hít; tần suất là 01 lần/tuần. Đồng thời T không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để T trở T người hữu ích cho gia đình và xã hội.
Bởi các lẽ trên,
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2,3 Điều 103; Điều 104, Điều 107; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ Điều 3,7, 11, 16, 17, 18,19, 20, 23, 24, 29, 30, 31Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của uỷ ban thường vụ Quốc Hội , trình tự , thủ tục xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;
- Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;
- Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 4; khoản 2 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 11; Điều 12; Điều 13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP; Nghị định 136/2016/NĐ-CP; Điều 16 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ;
- Chương V Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của lUật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Kiều Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày 30/01/2023 (ngày UBND xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội có quyết định giao T cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, T phố Hà Nội).
3. Người bị đề nghị áp dụng xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định tại UBND xã nơi người bị đề nghị cư trú.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cung cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXH H. Ứng Hoà - VKSND huyện Ứng Hoà - Người bị đề nghị - Công an huyện Ứng Hoà - UBND xã Phù Lưu - Lưu hs. | THẨM PHÁN Hoàng Thị Bích Hằng |