- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "DSPT"
- Tòa quyết gì? Huỷ Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐ-PT | Bình Định, ngày 16 tháng 11 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp:Ông Phan Minh Dũng
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Ông Nguyễn Văn Hiệp
Tại Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023.
Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án”, giữa:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, 1984
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu V L, phường N, thị xã A, Bình Định.
2. Ông Lê L, sinh năm 1954
Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, Bình Định.
Tại đơn kháng cáo ngày 09/10/2023, bà Nguyễn Thị T kháng cáo yêu cầu huỷ Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
XÉT THẤY:
Ngày 10/10/2022 Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn có thông báo số 593/TB-CCTHADS cho người được thi hành án là bà Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung của bà Phạm Thị T1 trong khối tài sản chung với ông Lê L để thi hành án. Theo vận đơn mã số EC640064955VN có dấu bưu điện Đ thì bà T đã gửi Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự vào lúc 09:55 ngày 17/01/2022 cho Toà án nhân dân thị xã An Nhơn. Theo kết quả tra cứu mã vận đơn tại trang web: https://ems.com.vn/tra-cuu/tra-cuu-buu-gui"https://ems.com.vn/tra-cuu/tra-cuu-buu-gui Toà án nhân dân thị xã An Nhơn đã nhận Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà T vào lúc 14h:00 ngày 20/10/2022. Tuy nhiên, đến ngày 20/02/2023 Toà án nhân dân thị xã An Nhơn mới đóng dấu “công văn đến” và cấp Giấy xác nhận đã nhận đơn yêu cầu số 46/GXN-TA ngày 20/02/2023 cho bà Nguyễn Thị T là vi phạm thời gian nhận và xử lý đơn yêu cầu theo quy định tại các Điều 191, 363 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Toà án nhân dân thị xã An Nhơn cần rút kinh nghiệm vấn đề này.
Do đó, TAND thị xã An Nhơn căn cứ dấu “công văn đến” và Giấy xác nhận số 46/GXN-TA ngày 20/02/2023 của TAND thị xã An Nhơn để cho rằng ngày 20/02/2023 TAND thị xã An Nhơn mới nhận được đơn của bà T là quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã An Nhơn nên bà T không có quyền yêu cầu theo khoản 1 Điều 74 Luật thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi 2014) để ra Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự là không có cơ sở.
Mặt khác, sau khi Tòa thị xã A thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc Dân sự thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê L có tranh chấp về tài sản để thi hành án. Trong trường hợp này, Toà án chỉ cần đình chỉ giải quyết việc dân sự để chuyển sang thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục chung. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự do người yêu cầu không có quyền yêu cầu và tại Điều 2 của Quyết định đình chỉ tòa án xác định bà Nguyễn Thị T không còn quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc dân sự làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T được pháp luật bảo vệ.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023 là không có cơ sở, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu. Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, huỷ quyết định đình chỉ nói trên và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị chấp nhận kháng cáo của người yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn để tiếp tục giải quyết là phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Huỷ Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 141/2023/QĐST-DS ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được xác định khi giải quyết lại.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị T không phải chịu; hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T (người nộp thay: Ông Nguyễn Thanh H) 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001996 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định; - Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn; - Chi cục THADS thị xã An Nhơn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Phan Minh Dũng |