vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐ-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 25/04/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-DS ngày 28/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền chị Nhung đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003108 ngày 06/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nhung - Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-DS ngày 28/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐ - PTHưng Yên, ngày 25 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thị Nga

Các Thẩm phán: Ông Trương Quang Tú

Ông Hoàng Hữu Tăng

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST - DS ngày 28/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự về việc: “Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1975, vắng mặt;

Địa chỉ: 60/12A Quang Trung, phường 12. Quận G, TP HCM

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nhung: Anh Nguyễn Văn H, SN 1981, có mặt;

Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện A, tỉnh H.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1979, vắng mặt;

HKTT: Thôn H, xã V, huyện A, tỉnh H

Nơi cư trú: Phố Phạm Huy Th, thị trấn A, huyện A, tỉnh H

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Hoàng Thị N: Bà Vũ Thị Kiều A - Luật sư Công ty Luật TNHH TA, có mặt;

Địa chỉ: Số 14 NV1 The Manor Cen tral Park, đường N, phường Đ, quận H, thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Q, sinh năm 1950, vắng mặt;

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, vắng mặt;

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981, có mặt;

Đều trú tại: Thôn H, xã V, huyện A, tỉnh HY.

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, có mặt;

Trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh H.

- Anh Hoàng Tr, sinh năm 1981, có mặt;

Trú tại: P1510, CT4 Khu nhà ở CBCS – BCA, Tổ dân phố Đ 1, phường Cổ Nhuế 2, quận B, thành phố HN.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 05/3/2023 anh Nguyễn Văn H là người được nguyên đơn chị Nguyễn Thị N ủy quyền kháng cáo không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2023/QĐST-DS ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ trên và giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 25/2022/TLST-DS ngày 24/10/2022.

XÉT THẤY:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N cho rằng: Bố chị là ông Nguyễn Văn Kh (đã chết), mẹ chị là bà Lê Thị Q, sinh năm 1950. Bố, mẹ chị có 04 người con gồm chị là Nguyễn Thị Nh, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị H. Ông Khắc chết năm 2012 không để lại di chúc. Bà Q đã tự ý chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị N một phần thửa đất của bố mẹ mà chị và anh H, anh H, chị H không biết, không đồng ý. Chị khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Q và chị Hoàng Thị N vì hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất cho bà Q và chị em chị; buộc bà Q và chị Hoàng Thị N phải bồi thường thiệt hại cho chị số tiền ...........chi phí cho việc đi lại khởi kiện nhưng chị N không nộp tiền tạm ứng chi phí cho việc thẩm định, định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp:

Anh Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị N cho rằng nguyên đơn là người bị thiệt hại, không yêu cầu thẩm định, định giá tài sản nên không nộp tạm ứng thẩm định, định giá tài sản cũng như các chi phí khác và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Luật sư Vũ Thị Kiều A - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Hoàng Thị N đề nghị Hội đồng phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án; quan điểm của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm xét thấy:

Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do vậy, việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là bắt buộc. Tòa án cấp sơ thẩm đã ra thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày 17/02/2023 và giao cho anh Hiệp là người đại diện theo ủy quyền của chị Nhung đúng theo quy định của pháp luật đồng thời Tòa án đã giải thích pháp luật cho anh Hiệp, nhưng nguyên đơn không nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Theo hướng dẫn tại mục 5 phần IV Giải đáp số 02/2022/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TAND tối cao: “Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì:“Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây: ...đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này...”

Như vậy, chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Q và chị Hoàng Thị N là vô hiệu và xử lý hậu quả nhưng lại không nộp tiền tạm ứng cho việc thẩm định và định giá tài sản là không tuân thủ theo quy định tại Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, kháng cáo yêu cầu hủy quyết định đình chỉ số 02/2023/QĐST- DS ngày 28/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-DS ngày 28/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền chị Nhung đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003108 ngày 06/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm”.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ