- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lê quang Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Quang Th.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/ 2022/QĐST- VDS | Ninh Bình,ngày 13 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v:Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2021/TLST- VDS ngày 26 tháng 11 năm 2021về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 04 tháng 4 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:Anh Lê Quang Th; địa chỉ nơi cư trú: phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DỤNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu và tại phiên họp người yêu cầu anh Lê Quang Th trình bày:Anh kết hôn với chị Phan Thị H vào ngày 07 tháng 9 năm 2016, có được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh và cũng đăng ký hộ khẩu thường trú tại phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 2 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng cãi nhau, chị H đã mang con chung là cháu Lê Quốc Đ bỏ nhà đi. Khi bỏ đi chị H không để lại thông tin gì, không nói đi đâu, làm gì và mang toàn bộ giấy tờ tùy thân theo. Sau khi chị H bỏ nhà đi, bố mẹ anh đã thông báo cho bố mẹ chị H và hỏi tin tức của chị H nhưng bố mẹ chị H nói chị H không về nhà bố mẹ. Từ khi chị H bỏ đi đến nay anh đã nhiều lần gọi điện liên lạc, tìm kiếm ở gia đình cũng như bạn bè của chị H nhưng không ai có tin tức của chị H đang ở đâu, làm gì. Cho đến nay đã quá thời hạn 02 năm( từ tháng 2 năm 2019 đến nay) nên anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phan Thị H, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mất tích để anh có căn cứ làm thủ tục ly hôn với chị H.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình về việc giải quyết việc dân sự:
Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 68 Bộ luật dân sự, Điều 149, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quang Th: tuyên bố chị Phan Thị H, sinh năm 1993, nơi cư trú cuối cùng là phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mất tích kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật.
- Anh Lê Quang Th phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình nhận định:
Về tố tụng: anh Lê Quang Th yêu cầu tuyên bố chị Phan Thị H, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mất tích nên căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là yêu cầu về dân sự “Tuyên bố một người mất tích”thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.
Về nội dung, yêu cầu của anh Lê Quang Th: Anh Lê Quang Th và chị Phan Thị H kết hôn ngày 07/9/2016, tại UBND phường V, thành phố N(theo trích lục kết hôn được UBND phường V, thành phố N cấp ghi số 35 ngày 07/9/2016). Sau khi kết hôn vợ chồng anh Th chị H thường xuyên chung sống tại phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Tháng 02 năm 2019 chị Phan Thị H bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không có tin tức gì. Anh Th đã tìm kiếm chị H nhưng không có có kết quả. Đến nay anh Lê Quang Th yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phan Thị H mất tích từ tháng 02 năm 2019.
Trên cơ sở đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ mà anh Lê Quang Th đã nộp có xác nhận của Chi bộ phố A và Công an phường V, thành phố N về việc chị Phan Thị H, sinh năm 1993, có hộ khẩu thường trú tại phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, không ở địa phương từ tháng 2 năm 2019 đến nay; xác nhận của bố mẹ đẻ chị Phan Thị H là ông Phan Ngọc S và bà Nguyễn Thị P về việc từ tháng 2 năm 2019 chị H bỏ nhà chồng đi nhưng không liên lạc với gia đình, hiện chị H ở đâu làm gì vợ chồng ông bà không biết. Ngày 01/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phan Thị H và đăng trên báo hàng ngày của trung ương ( Báo Nhân dân) trong ba số liên tiếp, phát sóng trên Đài phát thanh của Trung ương ( Đài Tiếng nói Việt Nam) ba lần trong 03 ngày liên tiếp, đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án, UBND tỉnh Ninh Bình. Đến nay đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên( ngày 03/12/2021) nhưng không có tin tức xác thực về việc chị Phan Thị H còn sống hoặc đã chết. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định chị Phan Thị H đã biệt tích 02 năm liền trở lên nên chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quang Th tuyên bố chị Phan Thị H mất tích theo quy định tại Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật dân sự.
Anh Lê Quang Th đã nộp chi phí cho việc đăng, phát thông báotìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích với tổng số tiền là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này theo quy định tại Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự anh Th phải chịu.
Về lệ phí: Anh Lê Quang Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Th được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ : Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 385; Điều 387; Điều 388 và Điều 389; khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật dân sự. Điều 6; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Quang Th.
Tuyên bố chị Phan Thị H, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Quang Th phải chịu là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng mà anh Lê Quang Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000713 ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Lê Quang Th có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. N¬i nhËn:
| -TAND tỉnhNinhBình; -VKSNDTPNB; -VKSND tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự; - Chi cục THADS TP NB; - UBND phường V, TPNB; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Giang Thị Thúy Thu |