- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố mất tích đối với anh Tô Văn Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Nguyễn Thị T đối với anh Tô Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-VDS | Tân Biên, ngày 18 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: ông Đặng Ngọc An.
Thư ký phiên họp: bà Lâm Thị Ngọc Triều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên tham gia phiên họp: bà Trần Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiến hành mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-VDS ngày 23 tháng 02 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐ-TA ngày 01 tháng 3 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; vắng mặt.
Cư trú tại: ấp A, xã B, huyện D, tỉnh L.
Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị T: anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983; cư trú tại: khu phố 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh T (hợp đồng ủy quyền ngày 23/02/2022); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Tô Văn Q, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 02, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 20 tháng 01 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu – chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Tô Văn Q chung sống vợ chồng năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh L. Quá trình chung sống chị và anh Q có 01 con chung cháu tên Tô Thị Kim Q, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2011. Sau khi kết hôn thì chị và anh Q về sống cùng nhau tại ấp S, xã T, h T, tỉnh T. Từ tháng 01 năm 2018 anh Q thường xuyên đi sang Campuchia để làm thợ mộc (chạm trỗ, điêu khắc gỗ), thời gian đầu anh Q còn về thăm nhà, nhưng từ tháng 6 năm 2018 anh Q không về cũng không liên lạc với gia đình. Chị và gia đình đã tìm kiếm anh Tô Văn Q nhiều lần nhưng không có tin tức. Đến nay anh Q cũng không trở về địa phương, không ai gặp và biết tin anh Quý hiện tại ở đâu. Chị đã đăng tin tìm kiếm anhh Q trên Đài phát thanh truyền hình tỉnh T nhưng vẫn không có tin tức.
Nay chị yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Tô Văn Q để thuận tiện trong giao dịch dân sự.
* Tại phiên họp:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị T và người đại diện hợp pháp của chị T là ông Nguyễn Văn N vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Văn Q vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc giải quyết yêu cầu việc dân sự: anh Tô Văn Q bỏ nhà đi từ tháng 06/2018 đến nay vợ con không ai biết hiện nay anh Q ở đâu, làm gì. Theo đơn của chị T ngày 20/01/2022 yêu cầu tuyên bố anh Q mất tích và đơn xác nhận không có mặt tại nơi cư trú. Như vậy tính từ ngày anh Q không có tin tức gì đến ngày chị T làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích là hơn 02 năm. Chị T đã nhắn tin tìm kiếm và Tòa án nhân dân huyện T đăng tin tìm trên báo Công Lý, nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm anh Q. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Q mất tích là đúng với quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng Điều 369, 370 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T tuyên bố anh Tô Văn Q mất tích. Chị T chịu lệ phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:
Vào tháng 06/2018 anh Tô Văn Q, sinh năm 1982; địa chỉ trước khi biệt tích tổ 2, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh T đã bỏ nhà đi biệt tích đến nay mà không có tin tức xác thực về việc anh Q còn sống hay đã chết. Chị T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không có kết quả.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm một người mất tích đối với anh Tô Văn Q. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được đăng trên báo Công lý và nhắn tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam theo đúng quy định tại Điều 384, 385, 388 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (ngày 17/3/2022) vẫn không có tin tức của anh Q.
Xét thấy anh Tô Văn Q đã bỏ nơi cư trú đi biệt tích từ tháng 06/2018 đến nay là đã quá hai năm liền trở lên nhưng không có tin tức. Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự thì: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Do đó, chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Tô Văn Q mất tích là có căn cứ chấp nhận.
Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Ghi nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp và chi phí xong.
Về lệ phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Nguyễn Thị T đối với anh Tô Văn Q.
Tuyên bố anh Tô Văn Q, sinh năm 1982; cư trú tại: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh T; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Tổ 02, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh T mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003738 ngày 23 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh T. Chị T đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Ghi nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp và chi phí xong.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện TB; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Thạnh Tây; - Lưu hồ sơ việc dân sự; - Lưu tập QĐ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đặng Ngọc An |