vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 24/02/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị Mỹ D.

Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và là địa chỉ cư trú sau cùng: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh mất tích. Đối với biện pháp quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn N: Không xem xét giải quyết, do không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị Mỹ D.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐST-VDSC, ngày 24 tháng 02 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Thảo.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Thanh Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 200/2021/TLST-VDS ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 23/2022/QĐST-VDS ngày 16 tháng 02 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị Mỹ D, sinh năm: 1992; địa chỉ: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu đề ngày 07-4-2021, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng ngày 31-5-2021 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Phạm Thị Mỹ D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn N do tự quen biết nhau, được gia đình hai bên chấp nhận, nên tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 13-7-2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ cuối năm 2012, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải với nhau, anh N sống không quan tâm đến vợ con. Hai vợ chồng đã tìm nhiều cách để trao đổi hàn gắn hôn nhân, nhưng vẫn không được. Đến đầu năm 2013, anh N tự ý bỏ nhà, đi khỏi địa phương ấp NH, xã ĐP, huyện C đến nay mà không trở về lần nào. Từ ngày anh N ra đi, không liên hệ với chị, với con hay với bất cứ ai khác trong gia đình. Chị đã tìm đến những nơi mà anh N từng cư trú và cố gắng liên hệ tin tức anh N thông qua người thân, bạn bè, nhưng đều không tìm thấy, cũng không ai biết được thông tin nào về anh N. Do chị hoàn toàn không thể tìm kiếm được anh N, không biết anh N đang làm gì, ở đâu, nên nay chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích để chị làm thủ tục khởi kiện ly hôn với anh N theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp hôm nay, chị Phạm Thị Mỹ D có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố anh N mất tích.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên họp hôm nay, Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp đã thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên họp sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong việc dân sự: Từ khi thụ lý việc dân sự cũng như tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung giải quyết việc dân sự: Vị đề nghị áp dụng các Điều 27, 35, 39, 369, 370, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị Mỹ D về việc tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích. Về quản lý tài sản của anh N: Do không có yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, Vị đề nghị nghĩa vụ chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện C nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng của đương sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định chị Phạm Thị Mỹ D là người yêu cầu; Anh Nguyễn Văn N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.

[2] Xét yêu cầu của chị Phạm Thị Mỹ D về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích là có cơ sở. Bởi lẽ: Chị D, anh N kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐP ngày 13-7-2012 và đăng ký thường trú tại ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Từ tháng 6 năm 2013, anh N tự ý bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay không trở về, được Công an ấp NH, xã ĐP xác nhận ngày 09-4-2021. Đồng thời, theo các Biên bản tiếp xúc, xác minh cùng ngày 26-4-2021 của Tòa án với chính quyền địa phương ấp NH, xã ĐP và với người dân lân cận nơi cư trú của vợ chồng anh N, chị D đều thống nhất xác nhận anh N đã đi khỏi địa phương biệt tích hơn 07 năm nay mà không có tin tức; Tại ấp NH, xã ĐP không còn người thân hay tài sản nào của gia đình anh N tại đây.

[3] Sau khi thụ lý việc dân sự về yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích của chị Phạm Thị Mỹ D, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu mất tích số: 11/2021/QĐ-TA ngày 11-5-2021 để thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Văn N. Quyết định này đã được đăng trên báo Công Lý ba số liên tiếp là số 83 (1935) ngày 15-10-2021, số 84 (1936) ngày 20-10-2021, số 85 (1937) ngày 22-10-2021; Được thông tin tuyên truyền trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 17h30 - 18h00 của ba ngày liên tiếp là 15, 16 và 17-10-2021; Đồng thời, được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân, để thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Văn N. Cho đến nay đã hết 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (ngày 15-10-2021) mà anh N vẫn hoàn toàn không có tin tức.

[4] Do anh Nguyễn Văn N đã biệt tích từ tháng 6 năm 2013 cho đến nay, mặc dù Tòa án và chị D đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh N còn sống hay đã chết, hiện đang cư trú ở đâu và làm gì. Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Mỹ D về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích.

[5]. Đối với biện pháp quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn N: Chị Phạm Thị Mỹ D xác định không có tài sản, không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6]. Về chi phí tố tụng và lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị Mỹ D phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7]. Xét quan điểm của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 68, 149, 150, 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tiểu mục 1 Mục I phần B Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị Mỹ D.

Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và là địa chỉ cư trú sau cùng: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh mất tích.

Đối với biện pháp quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn N: Không xem xét giải quyết, do không có yêu cầu.

2. Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị Mỹ D phải chịu tổng cộng là 3.060.000 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) chi phí đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên Báo Công lý và phát sóng trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Chị D đã nộp đủ và đã chi trả xong.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị D đã nộp theo Biên lai thu số 0005240 ngày 16-4-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ