vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, Điều 370, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tư Thị L về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Tuyên bố anh Phan Văn N – Sinh năm 1997, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk mất tích kể từ ngày 03/3/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Phan Văn Nam"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, Điều 370, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BUÔN ĐÔN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐST-VDS
Ngày: 29/4/2022
V/v: Tuyên bố một người mất tích.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v Tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Vinh Tuấn

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Đặng Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2021/TLST – VDS ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2022/QĐST - VDS ngày 20 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Tư Thị L, sinh năm 1999

Trú tại: Thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Văn N, sinh năm 1997

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và tại phiên họp người yêu cầu chị Tư Thị L trình bày:

Chị và anh Phan Văn N đăng ký kết hôn ngày 19/12/2018 tại UBND xã E, huyện B theo quy định của pháp luật và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là Tư Phan Thiên D, sinh ngày 11/11/2018. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn cãi nhau là do anh N không lo làm ăn, hay uống rượu, không quan tâm đến gia đình vợ con. Đến ngày 03/3/2019 anh N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức, lý do anh N bỏ nhà đi là do cãi nhau với vợ, sau khi anh N đi thì chị L đã thông báo với chính quyền địa phương và đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm, kể cả thông báo nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không biết anh N ở đâu, làm gì, không ai có thông tin gì.

Nay chị Tư Thị L đề nghị Tòa án tuyên bố anh Phan Văn N mất tích để làm thủ tục ly hôn và chị L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tư Phan Thiên D đến tuổi trưởng thành, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp xem xét, giải quyết đơn yêu cầu, Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thời hạn giải quyết xem xét đơn, ra Thông báo nhắn tin trên báo, đài, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, đương sự làm đơn đúng quy định tại Điều 387, 388 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp hôm nay, Chủ tọa phiên họp, Thư ký, người yêu cầu thực hiện đúng theo quy định tại Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Đề nghị Chủ tọa phiên họp áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27, Điều 227, Điều 361, Điều 370, Điều 387 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Tư Thị L đối với anh Phan Văn N.

Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Tư Thị L phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Tư Thị L, là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung việc yêu cầu: Chị Tư Thị L và anh Phan Văn N đăng ký kết hôn ngày 19/12/2018 tại UBND xã E, huyện B theo quy định của pháp luật và đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên ngày 03/3/2019 anh Phan Văn N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì, mặt dù chị L đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm, kể cả thông báo nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì. Trước khi đi khỏi địa phương anh Phan Văn N có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích khi người đó đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về người đó, mặt dù người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm.

Trong quá trình giải quyết xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tại Công an xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk thì đúng như lời trình bày của chị Tư Thị L, anh Phan Văn N đã vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay không có tin tức gì.

Xét yêu cầu của chị Tư Thị L và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tư Thị L và ra quyết định tuyên bố anh Phan Văn N có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk mất tích.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, Điều 370, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tư Thị L về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Tuyên bố anh Phan Văn N – Sinh năm 1997, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 08, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk mất tích kể từ ngày 03/3/2019.

Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Tư Thị L phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu số 0002433 ngày 03 tháng 11 năm 2021.

Quyền kháng cáo: Báo cho người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định này hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ