- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị D về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”: Xác định anh Lê Trọng T, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Tổ 1, ấp 4, xã Nha Bích, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Nin…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Số: 01/2022/QĐST-HNGĐ | Tân Châu, ngày 20 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu xác định cha cho con”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Ông Đặng Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 293/2022/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 129/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Trọng Q, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ 1, ấp 4, xã Nha B, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NỘI D VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, biên bản lấy lời khai, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị D trình bày:
Năm 2020, chị và anh Lê Trọng T, sinh năm 1989, mất ngày 04-4-2022 sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có Đ ký kết hôn. Vợ chồng chung sống tại ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 28-11-2021, chị có thai nên gia đình 02 bên tiến hành tổ chức đám cưới tại nhà trai và nhà gái.
Đến ngày 22-7-2022, chị sinh được một cháu trai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh và đã làm khai sinh cho cháu mang tên Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022 nhưng trong nội D Giấy khai sinh không thể hiện thông tin về cha ruột. Gia đình đã đưa cháu Nguyễn Lê Trọng Đ đi xét nghiệm ADN đối chiếu với mẫu xét nghiệm với ông Lê Trọng Q, sinh năm 1958 (cha ruột của anh Lê Trọng T) để xác định huyết thống cha con giữa cháu Nguyễn Lê Trọng Đ và anh Lê Trọng T.
Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 14-9-2022 của Viện sinh học phân tử LOCI, địa chỉ: Số 1140, đường Phạm Văn Đồng, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xác định: Người có mẫu ghi tên Lê Trọng Q, sinh năm 1958, loại mẫu niêm mạc miệng và người có mẫu ghi tên Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022, loại mẫu niêm mạc miệng có quan hệ cùng huyết thống dòng cha.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Lê Trọng Đ, chị đề nghị Tòa án xác định anh Lê Trọng T là cha của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ nhằm mục đích để hoàn tất phần thủ tục ghi tên cha vào khai sinh cho cháu.
Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Trọng Quân trình bày:
Ông là cha ruột của anh Lê Trọng T. Mẹ anh Lê Trọng T tên Lê Thị Đ, sinh năm 1961, mất năm 2013. Ông xác định giữa chị Nguyễn Thị D và anh Lê Trọng T có sinh sống với nhau như vợ chồng từ năm 2020 và có tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, do dịch bệnh covid nên chị D và anh T chưa làm thủ tục Đ ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian sống chung với nhau, chị D có thai và sinh được một cháu trai đặt tên Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022 là hoàn toàn đúng. Ngày 14-9-2022, ông và cháu Nguyễn Lê Trọng Đ đã tiến hành xét nghiệm ADN tại Viện sinh học phân tử LOCI tại thành phố Hồ Chí Minh để xác định huyết thống.
Nay ông cũng nhất trí với yêu cầu của chị Nguyễn Thị D về việc xác định anh Lê Trọng T là cha ruột của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ.
Tại phiên họp:
- Chị Nguyễn Thị D, ông Lê Trọng Q vắng mặt nên không ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp: Thẩm phán, Thư ký, đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội D: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng Điều 369, 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự và các Điều 88, 90, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị D, xác định anh Lê Trọng T là cha ruột của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, chị Nguyễn Thị D có yêu cầu xác định anh Lê Trọng T, sinh năm 1989 là cha của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh năm 2022. Vì vậy, yêu cầu xác định cha cho con theo quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình. Người yêu cầu xác định cha cho con đang cư trú tại ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị D, ông Lê Trọng Quân vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt họ là phù hợp với khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội D yêu cầu Tòa án giải quyết: Xét yêu cầu xác định cha cho con của chị Nguyễn Thị D, thấy rằng:
Chị Nguyễn Thị D và ông Lê Trọng Quân (cha ruột của anh Lê Trọng T) đều thống nhất xác định: Năm 2020, chị Nguyễn Thị D và anh Lê Trọng T, sinh năm 1989, sống chung với nhau như vợ chồng ngụ tại ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, do dịch bệnh covid nên chị D và anh T chưa làm thủ tục Đ ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến ngày 28-11-2021, chị Nguyễn Thị D có thai khoảng 06 tuần nên gia đình 02 bên đã tiến hành tổ chức đám cưới tại nhà trai và nhà gái. Sau đó, đến ngày 04-4-2022, anh Lê Trọng T mất do tai nạn giao thông. Ngày 22-7-2022, chị Nguyễn Thị D sinh được một cháu trai và đã làm khai sinh cho cháu mang tên Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022 nhưng trong nội D Giấy khai sinh không thể hiện thông tin về cha ruột.
Qua kết quả xác minh trưởng ấp cùng một số người dân sinh sống gần với nhà của chị Nguyễn Thị D đều xác định chị Nguyễn Thị D và anh Lê Trọng T có sinh sống và tổ chức đám cưới tại địa phương vào cuối năm 2021. Chị D và anh T chưa Đ ký kết hôn với bất kỳ ai khác, thời điểm anh T mất thì chị D đã mang thai khoảng 06 tháng. Mặt khác, theo Kết quả xét nghiệm ADN ngày 14-9-2022 của Viện sinh học phân tử LOCI, địa chỉ: Số 1140, đường Phạm Văn Đồng, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xác định: Người có mẫu ghi tên Lê Trọng Quân, sinh năm 1958, loại mẫu niêm mạc miệng và người có mẫu ghi tên Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022, loại mẫu niêm mạc miệng có quan hệ cùng huyết thống dòng cha.
Từ những phân tích trên, xét thấy việc chị Nguyễn Thị D yêu cầu xác định anh Lê Trọng T là cha ruột của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022 là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự và các Điều 88, 90, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các Điều 88, 90, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 35, 39, 367, 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị D về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”: Xác định anh Lê Trọng T, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Tổ 1, ấp 4, xã Nha Bích, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là cha ruột của cháu Nguyễn Lê Trọng Đ, sinh ngày 22-7-2022.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí việc dân sự, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà chị Nguyễn Thị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007679 ngày 08-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị Nguyễn Thị D đã nộp xong tiền lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhTây Ninh; - VKSND huyện Tân Châu; - Chi cục THADS huyện Tân Châu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Nguyễn Thị Kim Quyên |