- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 68 của Bộ Luật Dân sự 2015
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST- DS | G, ngày 25 tháng 02 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G- TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Phai
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Đèo – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2021/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 về việc theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐ-ST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2021.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Kim Thị T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khóm 1, phường H, thị xã G, tỉnh B(Có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Kim Kha L, sinh năm 1988; Địa chỉ: khóm 1, phường H, thị xã G, tỉnh B(Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Chị T và anh Kim Kha L chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã G vào ngày 12/12/2016. Quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung.
Do vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn nên anh L bỏ nhà đi từ đầu năm 2018 đến nay không về, không rõ tung tích. Chị T đã áp dung mọi biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không biết anh L đang ở đâu và cũng không có tin tức xác thực anh L còn sống hay đã chết.
Nay, chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Kim Kha L sinh năm 1988, có nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích là khóm 1, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Với mục đích là để hoàn thiện thủ tục L hôn với anh L.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng dân sự chấp hành đúng quy định;
+ Chấp nhận yêu cầu của chị T, tuyên bố anh Kim Kha L mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã G nhận định:
Người yêu cầu vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt của họ là phù hợp với quy định tại Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh L có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại khóm 1, phường H, thị xã G tỉnh Bạc Liêu. Nay chị T vợ anh L yêu cầu tuyên bố anh L mất tích nên việc Tòa án nhân dân thị xã G thụ lý là phù hợp với quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Kim Thị T và anh Kim Kha L chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã G vào ngày 12/12/2016, không có con chung.
Theo xác nhận của chính quyền địa phương anh L có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích thuộc khóm 1, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, và anh L đã bỏ địa phương đi từ năm 2018 cho đến nay. Mặc khác chị T có thông báo tìm kiếm anh L trên phương tiện thông tin đại chúng.
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thị xã G đã thực hiện quyết định tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các báo hàng ngày của Trung Ương, Cổng thông tin điện tử của Tòa án và phát song trên đài phát thanh theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay hết hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh L còn sống hay đã chết.
Như vậy, anh L đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh L còn sống hay đã chết. Căn cứ quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự 2015 có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị T.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G là phù hợp nên được ghi nhận.
Do chị T xác định không có tài sản và không có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Kim Thị T phải chịu lệ phí phiên họp 300.000đ, khấu trừ số tiền tạm ứng chị T đã dự nộp theo biên lai thu số 0002438 ngày 31/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G.
Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm chị T tự chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 39, 370, 372, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 68 của Bộ Luật Dân sự 2015
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị T: Tuyên bố anh Kim Kha L mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Kim Thị T phải chịu lệ phí phiên họp 300.000đ, khấu trừ số tiền tam ứng chị T đã dự nộp theo biên lai thu số 0002438 ngày 31/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Nơi nhận:
| + TAND tỉnh Bạc Liêu; + VKSND thị xã G; + Chi cục THADS thị xã G; + Các đương sự; +Ủy ban nhân dân xã, phường; + Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Phai |