vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 17/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Th.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Th phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Th đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu tạm ứng lệ phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trương Thị Th"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐST- DSTP. B, ngày 17 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp:Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên họp: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm2022 , tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2022/TLST-VDS ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 08 tháng 8 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Th; sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 3, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Thế M; sinh năm 1983; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Tổ 3, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và quá trình làm việc tại Tòa án, người yêu cầu là chị Trương Thị Th trình bày:

Chị và anh Hoàng Thế M, sinh năm 1983 có quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Qu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào năm 2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại Tổ 4 (Nay là tổ 3), phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Đến tháng 12/2014, do mâu thuẫn gia đình nên anh Hoàng Thế M bỏ nhà đi từ đó đến nay, không rõ đi đâu, làm gì. Chị Th và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần, nhiều nơi nhưng anh Hoàng Thế M vẫn không trở về và đến nay vẫn không có tin tức gì về anh M, không rõ anh M còn sống hay đã chết. Để ổn định cuộc sống, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích làm căn cứ giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng chị.

Về việc áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Th không đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh M.

Tại phiên họp chị Trương Thị Th vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, trong đơn chị Th trình bày rõ chị giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quan điểm: Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý, giải quyết đơn của chị Trương Thị Th yêu cầu tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 149 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trương Thị Th, tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích. Chị Trương Thị Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn nhận định:

Về tố tụng: Anh Hoàng Thế M là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại tổ 4 (Nay là tổ 3), phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn nên yêu cầu của chị Trương Thị Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại các Điều 27, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hoàng Thế M từ nhỏ đến khi trưởng thành sinh sống cùng gia đình tại thôn Th, xã Qu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 2005 anh Hoàng Thế M kết hôn với chị Trương Thị Th, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Qu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ 4 (Nay là tổ 3), phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Đến tháng 12/2014, do mâu thuẫn gia đình nên anh Hoàng Thế M bỏ nhà đi từ đó đến nay, không rõ đi đâu, làm gì. Chị Th và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần, nhiều nơi nhưng anh Hoàng Thế M vẫn không trở về và đến nay vẫn không có tin tức gì về anh M, không rõ anh M còn sống hay đã chết. Nay chị Trương Thị Th yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân thành phố B đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Hoàng Thế M. Quá trình xác minh tại địa phương, Tòa án được Uỷ ban nhân dân và Công an phường Ph, thành phố B cung cấp: Anh Hoàng Thế M có hộ khẩu thường trú tại tổ 4 (Nay là tổ 3), phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Năm 2005, anh Hoàng Thế M đăng ký kết hôn với chị Trương Thị Th tại UBND xã Qu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Th, anh M chung sống tại Tổ 4 (Nay là tổ 3), phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Đầu năm 2014 anh Hoàng Thế M bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay nhưng không làm thủ tục cắt khẩu, chuyển khẩu. Năm 2015, anh Hoàng Thế M bị truy nã theo Quyết định truy nã đặc biệt số 05/MT, ngày 05/3/2015 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên.

Từ khi bỏ đi và có Quyết định truy nã đặc biệt cho đến nay không thấy anh M trở về địa phương, địa phương cũng không có tin tức gì của anh M, không biết anh M còn sống hay đã chết.

Tòa án nhân dân thành phố B đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2022/QĐ-TA, ngày 01/4/2022 đối với anh Hoàng Thế M, thời hạn thông báo tìm kiếm là 04 tháng. Thông báo được đăng trên Báo Công lý 03 số liên tiếp vào các ngày 08, 12, 15/4/2022; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 05, 06, 07/4/2022 và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Đến nay đã hết 04 tháng mà không có tin tức gì của anh M. Như vậy tính đến nay anh Hoàng Thế M đã biệt tích hơn 07 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh M còn sống hay đã chết.Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Th, tuyên bố anh Hoàng Thế M mất tích.

Về lệ phí: Chị Trương Thị Th là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39,các Điều 149, 367, 370, 371, 372 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Quyết định:

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Th. Tuyên bố anh Hoàng Thế M; sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 3, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn mất tích.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Th phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Th đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số 0002069, ngày 24/3/2022.

3/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Trương Thị Th có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ