vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 06/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; các điều 361, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Đức H tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích. Về lệ phí: Áp dụng Điều 144, Khoản 1 Điều 149 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc anh Lê Đức H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "DS"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; các điều 361, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự:
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ QUANG
TĨNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐST-DSVũ Quang, ngày 06 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

" V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích"

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nghiêm Khắc Cẩn

- Thư ký phiên họp: Ông Lê Song Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viểm sát viên nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp : Ông Ngô Đức Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 08 tháng 04 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích ” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2022/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2022.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Đức H - Sinh năm 1966

Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Vũ Q, huyện Vũ Q, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt ).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người bị yêu cầu): Chị Phạm Thị N - Sinh năm: 1981

Địa chỉ cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ dân phố 4, thị trấn Vũ Q, huyện Vũ Q, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và tại các bản khai, anh Lê Đức H trình bày như sau: Anh H và chị Phạm Thị N kết hôn với nhau dựa trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vũ Q, huyện Vũ Q, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu, chung sống hạnh phúc vợ chồng có con chung là Lê Quốc K, sinh ngày 06/01/2008 hiện đang sống chung với anh H. Đầu năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài đến tháng 4/2019 thì chị Phạm Thị N bỏ nhà ra đi biệt tích từ đó đến nay. Thời gian qua, anh H cùng gia đình đã đi thăm hỏi, tìm kiếm khắp nơi nhưng không có bất kỳ thông tin gì về chị N. Vì vậy, anh Lê Đức H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp hôm nay, anh Lê Đức H vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp cho rằng: Từ thời điểm thụ lý việc dân sự cho đến nay, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Chủ tọa phiên họp như sau:

Áp dụng Khoản 1 Điều 68 Bộ Luật dân sự; các Điều 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Đức H tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích; áp dụng Khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Diều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc anh Lê Đức H nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang nhận định:

Quan hệ hôn nhân của anh Lê Đức H và chị Phạm Thị N là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn kéo dài đến tháng 4 năm 2019 thì chị Phạm Thị N bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có tin tức gì. Theo trình bày của anh Lê Đức H và cháu Lê Quốc K (là con của anh H và chị N) thì chị Phạm Thị N bỏ nhà đi biệt tích vào tháng 4 năm 2019; theo biên bản xác minh tại tổ dân phố 4 và UBND thị trấn Vũ Q thì chị Phạm Thị N vắng mặt tại địa phương từ 4/2019 đến nay không có tin tức gì. Qua làm việc với chị Phạm Thị T và chị Phạm Thị Th (là chị gái của chị N) thì cả chị T và chị Th đều không biết thông tin gì chị Phạm Thị N. Xét các mốc thời gian chị Phạm Thị N bỏ nhà đi biệt tích nói trên thì ngày 01/5/2019 là được xác định là thời điểm biết được tin tức cuối cùng về chị Phạm Thị N. Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay thì chị Phạm Thị N bỏ nhà đi biệt tích đã hơn 03 năm liền kề mà gia đình cũng như chính quyền địa phương không có thông tin gì, không biết chị N còn sống hay đã chết. Mặt khác, Sự biệt tích của chị Phạm Thị N đã được Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích gửi đăng, phát trên Báo công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử TAND tỉnh Hà Tĩnh, Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Hà Tĩnh và niêm yết công khai tại nhà văn hóa tổ dân phố 4, trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Vũ Quang cũng như trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang hơn 4 tháng nay nhưng vẫn không có thông tin gì về chị Phạm Thị N. Từ những căn cứ trên, Tòa nhận thấy yêu cầu của anh Lê Đức H về Tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở chấp nhận.

Người yêu cầu phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; các điều 361, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Đức H tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích.

- Về lệ phí: Áp dụng Điều 144, Khoản 1 Điều 149 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc anh Lê Đức H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Quang theo biên lai số 0003520 ngày 08 tháng 4 năm 2022.

- Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn10 ngày, kể từ ngày niêm yết quyết định.

Cỡ chữ