vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đinh Ngọc T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn B, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, mất tích. Anh Đinh Ngọc T phải chịu 3.938.500đ (ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Đinh Thị Cẩm T mất tích; anh T … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đinh Ngọc T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NGÃI
Số: 01/2022/QĐST-DS
Minh Long, ngày 10 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH LONG, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Rô

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Võ Thành Luân- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại: Tòa án nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2022 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Ngọc T, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ 2, phường Q, thành phố Qu, tỉnh Quảng Ngãi

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị Cẩm T, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 13/01/2022 và Bản tự khai đề ngày 20 tháng 01 năm 2022 và tại phiên họp giải quyết việc dân sự, anh Đinh Ngọc T trình bày: Anh T và chị Đinh Thị Cẩm T tự nguyện yêu nhau, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Qu, tỉnh Quảng Ngãi năm 2017. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau cho đến ngày 29/12/2019 chị T tự ý bỏ nhà đi khỏi địa phương không có tin tức gì.

Năm 2021, anh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M thông báo chị T vắng mặt tại nơi cư trú và Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nhưng từ khi Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú cho đến nay chị T vẫn không có tin tức gì.

Nay anh Đinh Ngọc T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T mất tích để anh Đinh Ngọc T xin ly hôn với chị Đinh Thị Cẩm T.

Tại phiên họp, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long phát biểu quan điểm:

- Về việc trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự; việc tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp đã tuân thủ đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 48, khoản 2 Điều 366, Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 387, 389 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đinh Ngọc T, tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T mất tích. Anh Đinh Ngọc T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Đinh Thị Cẩm T và lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Minh Long nhận định:

Chị Đinh Thị Cẩm T có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vào ngày 29/12/2019, chị Đinh Thị Cẩm T đã đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Anh Đinh Ngọc T là chồng chị T đã dùng mọi biện pháp tìm kiếm như hỏi những người xung quanh, bố mẹ đẻ chị T, chính quyền địa phương nơi chị T cư trú để tìm kiếm nhưng không ai biết chị T ở đâu; anh T cũng đã yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị T. Ngày 09/8/2021, Tòa án nhân dân huyên Minh Long ban hành Quyết định số 232/QĐ-TA thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị T, nhưng từ ngày 09/8/2021 cho đến nay Tòa án nhân dân huyện Minh Long cũng không nhận được tin tức gì về chị T. Hiện không rõ chị T ở đâu, nên anh Đinh Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Minh Long tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T mất tích là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân huyện Minh Long đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2022/QĐ-TA ngày 20/01/2022. Nội dung thông báo đã được đăng trên Báo nhân dân ba số liên tiếp từ số 24194 ngày 22/01/2022, 24195 ngày 23/01/2022 và 24196 ngày 24/01/2022; đã được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp 28, 29 và 30 tháng 01 năm 2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Đinh Thị Cẩm T; đồng thời trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án cũng tiến hành xác minh nơi cư trú của chị T thì địa phương nơi chị T cư trú cũng không có tin tức gì đối với chị T. Như vậy, chị Đinh Thị Cẩm T đã biệt tích trên 02 năm và hiện nay không có tin tức xác thực còn sống hay đã chết nên theo quy định tại khoản 1, Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Ngọc T về việc yêu cầu tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T mất tích là có căn cứ để chấp nhận.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Chi phí đăng, phát thông báo là 3.938.500 đồng anh Đinh Ngọc T phải chịu, anh T đã nộp và chi phí xong.

Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng anh Đinh Ngọc T phải chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 370, 371, 372, 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đinh Ngọc T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

- Tuyên bố chị Đinh Thị Cẩm T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn B, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, mất tích.

- Anh Đinh Ngọc T phải chịu 3.938.500đ (ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Đinh Thị Cẩm T mất tích; anh T đã nộp và chi phí xong.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự anh Đinh Ngọc T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí anh T đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000459 ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Đinh Thị Cẩm T vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được nhận quyết định hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ